Câu chuyện Hội An và tư duy hệ thống

Phố cổ Hội An. Ảnh: FB Thái Hạo
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Bức ảnh này tôi chụp cách đây hơn 2 năm, lúc Hội An vừa trải qua một trận lụt, phố xá đìu hiu vắng, ảm đạm, tịnh không một bóng người. Những dãy phố im ỉm khóa, không có du khách; nhưng còn người Hội An, họ đã đi đâu?

Nhiều người đã rời phố, họ bán hoặc cho các ông chủ mới thuê lại căn nhà của mình, có rất nhiều giọng nói xa lạ ở đây, đặc biệt là giọng Hà Nội, Sài Gòn, đáp lại mỗi khi ghé vào hỏi han một món đồ. Tiền cho thuê không nhỏ, đủ để chủ nhà có thể sống phong lưu ở một nơi khác. Bạn tôi người xứ Quảng, nói, không dưới một nửa nhà cổ đã bị đổi chủ. Nếu một ngày không còn dân bản địa nữa, hồn Hội An cũng sẽ mất đi, vĩnh viễn. Phố cổ chỉ còn là một nơi tập trung buôn bán dưới những mái nhà cũ – một cái vỏ Hội An.

Bài toán là làm sao để người Hội An ở lại mà neo một mảnh hồn bản xứ nhưng vẫn có thu nhập cao để sống và sống sang trọng trong một không gian bình yên chứ không phải huyên náo rậm rịch? Quá khó, khi vừa muốn làm du lịch lại vừa phải yên tĩnh! Cũng xin đừng nói rằng do từ ngữ không rõ ràng nên dẫn đến hiểu lầm về việc thu phí vào thành phố. Nói như thế là thiếu thuyết phục, vì giấy trắng mực đen vẫn còn đó, tràn ngập trên các báo.

Trở lại, phải hiểu rằng vì sao một căn nhà cổ ở Hội An có giá cho thuê mỗi tháng để kinh doanh lên đến cả trăm triệu đồng. Vì nó hái ra tiền. Từ đâu? Từ du lịch, tức là khách tham quan, mua sắm, trải nghiệm. Nếu bây giờ muốn một Hội An “bình lặng” thì đồng nghĩa phải hy sinh kinh tế. Thật kỳ lạ khi chính quyền Hội An vừa muốn thu được nhiều tiền nhưng lại vừa muốn hạn chế du khách. Thu tiền vé vào thành phố chỉ có lợi trước mắt, nhưng người dân phố cổ Hội An sẽ chết đứng.

Giá một căn nhà là mấy chục tỉ sẽ tụt xuống chỉ còn dăm mười tỉ, tiền cho thuê mỗi tháng cả trăm triệu sẽ chỉ còn mươi triệu. “Giảm tải” hay “hạn chế du khách” là một tư duy “đi vào lòng đất”. Du khách mỗi năm hoặc nhiều năm mới ghé Hội An một lần, bỏ ra 80 nghìn để mua một tấm vé, chả ảnh hưởng gì đến túi tiền của họ, nhưng nó gây ức chế vì phản cảm bởi một thái độ và hành xử không thân thiện. Người ta sẽ tẩy chay Hội An vì cái quyết định này của chính quyền sở tại.

Hơn ai hết, vì thế, không phải chỉ người dân Việt Nam nói chung nên bày tỏ lo lắng trước trước quyết định này, mà chính người dân phố cổ càng cần phải lên tiếng, vì quyền lợi của chính mình. Đó là trách nhiệm.

Lý do bảo tồn di sản cũng cần được nhìn nhận thẳng thắn hơn. Hội An là một thành phố như mọi thành phố khác, chỉ có điều nó cổ hơn, vậy thôi. Chừng ấy du khách chứ nhiều hơn nữa cũng không phải vì người ta đi bộ quá đông trên phố mà có thể làm xuống cấp những căn nhà! Cái cần bảo vệ là văn hóa, là ý thức pháp luật, là hồn cốt văn hóa bản địa… Cái cần “trùng tu” là chính sách đối với dân phố cổ và khách tham quan. Nhà cổ đa số thuộc sở hữu tư nhân, nếu xuống cấp thì họ đã tự sửa chữa, chính quyền chỉ đầu tư những mảng công cộng. Mà công cộng ở Hội An, một đô thị bé nhỏ, có còn khoảng trống nào nữa đâu để mà phải đổ thật nhiều tiền vào, ngoài những sửa chữa lắt nhắt?

Nên nhớ, Hội An là một di sản, nhưng là di sản sống. Đó là một đơn vị hành chính có hàng ngàn người dân đang sinh sống chứ không phải là một phế tích được rào chắn để chỉ bán vé tham quan. Vì vậy, các quyết định phải được đặt trên nền tảng pháp luật và những đặc thù mọi mặt. Đến đây, cái cần tính không phải là “hạn chế du khách” mà là tạo ra văn hóa “nhập gia tùy tục”. Cái cần nghĩ là làm sao để khách đến Hội An mà vui vẻ chịu móc tiền ra để mua sắm và tận hưởng.

Thêm nữa, Hội An không chỉ đang sống cho Hội An. Nhiều vùng phụ cận/vệ tinh của Hội An nhờ di sản và trung tâm du lịch Hội An mà được hưởng lợi. Thử nhìn qua An Bàng, nếu không có Hội An thì hàng trăm homestay xây ra cho ai ở? Và tất nhiên, không phải chỉ có An Bàng là nơi “đón lõng” du khách của Hội An, còn nào là rừng dừa Bảy Mẫu, làng rau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, Cù lao Chàm…; kể cả các huyện thị khác sát nách Hội An như Duy Vinh, Duy Xuyên với các hoạt động du lịch và làng nghề phong phú. Cho nên, phải hiểu rằng khách đến Hội An nhiều thực chất là đến với Quảng Nam và ngành du lịch Quảng Nam với mấy chục điểm mà ở đó Hội An chỉ là trung tâm điều phối. Đừng vội thất vọng việc du khách chưa tiêu nhiều trong lòng phố cổ, họ sẽ tiêu nó ở những nơi khác trong tỉnh. Vấn đề là làm gì để thỏa mãn nhu cầu chính đáng và đẹp đẽ của du khách khi họ đến với quê hương mình.

Không có một cái gì có thể tồn tại phân lập trong không gian và thời gian. Các vấn đề liên quan đến con người và xã hội lại càng có sự kết nối, đan bện chằng chịt nhưng hài hòa và nhịp nhàng, nếu được thiết kế và vận hành phù hợp với quy luật. Giáo sư Phan Đình Diệu viết, “toàn thể không phải là tổng gộp của các thành phần riêng lẻ, rời rạc, mà là một chỉnh thể thống nhất gồm các thành phần tương tác với nhau, chính qua các tương tác hữu cơ đó mà toàn thể có những thuộc tính hợp trội, đó là thuộc tính của toàn thể mà từng thành phần không thể có” (trích Một góc nhìn của trí thức, tập II, Nxb Trẻ, TP.HCM). Đây chính là tư duy hệ thống, một hiểu biết mới của nhân loại đã được áp dụng trong nghiên cứu khoa học lẫn xây dựng và quản lý xã hội nhiều chục năm qua, mà không một chính quyền nào nên cho mình cái quyền không biết đến. Tư duy cơ giới đã cáo chung, nếu vẫn còn giữ lối quản lý xã hội theo kiểu manh mún, cục bộ thì không những không tạo ra được những “thuộc tính văn hóa hợp trội” mà còn phá vỡ đi tính chỉnh thể hài hòa. Hậu quả sẽ không thể đong đếm hết được.

Hai chữ “Hội An” thật đẹp và giàu ý nghĩa. Di sản này cần được quản lý bởi một tư duy tổng thể, tư duy hệ thống, để neo giữ hồn người bản xứ, đồng thời sẽ là nơi thu hút khách, để từ đó “phân phối” cho các điểm đến khắp nơi trong tỉnh. Đừng chỉ nghĩ Hội An là Hội An – một phố nhà cũ dùng để bắt chẹt trí tò mò của khách vãng lai.

Nguồn: FB Thái Hạo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”