Có thật từ bỏ tư duy, ‘không quản được thì cấm’?

Dân Hà Nội chống cuộc viếng thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi cuối năm 2015. Ảnh: Hoàng Đình Nam/ AFP/ Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội CSVN ngày 21 Tháng Mười, 2024, ông Tô Lâm, tổng bí thư đảng Cộng Sản được truyền thông trong nước dẫn lời đã nói rằng cần “từ bỏ tư duy ‘không quản được thì cấm.’”

Thoạt nghe, công chúng cứ tưởng rằng ông Tô Lâm nói đến vấn đề mang tính khách quan phát sinh trong hành sử giữa chế độ đối với người dân trong nước.

Nhưng thực tế, tác giả của tư duy “không quản được thì cấm” không phát sinh từ đâu khác, mà hầu hết, đều phát sinh từ chính Bộ Công An, nơi mà ông tổng bí thư bây giờ đã từng là bộ trưởng của bộ ấy đến tám năm, suốt từ năm 2016 đến 2024.

Điều dễ nhìn thấy nhất là số lượng tù nhân chính trị đông đảo trong các nhà tù Việt Nam là một minh chứng hùng hồn của tư duy “không quản được thì cấm.”

Vì lẽ, về bản chất, hầu hết tù nhân chính trị trong nước không phải là tội phạm. Các quốc gia văn minh trên thế giới cũng không đặt các hành vi như “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…,” hoặc “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN…” như là các hành vi tội phạm hình sự để xét xử, bỏ tù công dân của mình.

Vì lẽ, các hành vi đó đều hợp pháp theo hiến pháp của họ cả. Chúng chỉ thể hiện quyền tự do biểu đạt chính kiến của công dân mà thôi. Về phương diện pháp lý, Việt Nam cũng vậy, đã quy định tại Hiến Pháp về các quyền ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình, tín ngưỡng, tôn giáo là các quyền tự do căn bản của công dân.

Nhưng nỗi lo lắng các quyền tự do ấy có thể trở thành mối nguy hại cho sự độc tài của đảng Cộng Sản, nên chế độ đã đặt ra các điều khoản 331 và 117 Bộ Luật Hình Sự để phủ nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến Pháp.

Sự phủ nhận đó chính là sản phẩm của tư duy “không quản được thì cấm” mà ông Tô Lâm, một trong các tác giả của tư duy ấy đã yêu cầu nên từ bỏ. Không chỉ trong phạm vi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà kể cả các quyền tự do khác như lập hội, biểu tình cũng chịu chung số phận “không quản được thì cấm.”

Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, thống nhất đất nước, Hiến Pháp từ năm 1980 của chế độ đã sớm quy định các quyền lập hội, biểu tình là các quyền tự do. Quy định là một việc, nhưng thực thi hay không lại là chuyện khác. Thực tế, hầu như hai quyền đó bị cấm đoán một cách triệt để.

Về quyền lập hội. Ngoại trừ các hội đoàn, tổ chức do chế độ chủ động thành lập, tài trợ chi phí hoạt động để phục vụ cho lợi ích của chính chế độ như: Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Cựu Chiến Binh, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM, Hội Liên Hiệp Thanh Niên, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Hội Nhà Báo, Hội Nhà Văn, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam… Còn lại, tất cả các hội do người dân thành lập đều bị giải tán, thậm chí đàn áp, trừng phạt như những tội phạm chống lại chế độ, nhất là các công đoàn độc lập thành lập để bảo vệ lợi ích cho người lao động.

Tương tự như vậy với quyền biểu tình. Rất nhiều hành sử của chế độ Cộng Sản gây mất lòng dân đã đưa đến những cuộc biểu tình phản đối. Như phản ứng yếu ớt của chế độ trước các hành vi xâm lấn biển, đảo, lãnh hải… của Trung Cộng ở Biển Đông, hoặc chủ trương thông qua các đạo luật bán nước (Luật Đặc Khu), tăng cường đàn áp nhân dân (Luật An Ninh Mạng). Tất cả các cuộc biểu tình ấy đều bị lực lượng an ninh của chế độ Cộng Sản ra tay đàn áp khốc liệt.

Riêng các cuộc biểu tình xảy ra vào Tháng Sáu, 2018, của người dân trong cả nước phản đối các dự luật Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng, khi ấy, chế độ Cộng Sản đã bắt giữ cả vài nghìn người dân. Trong đó, hàng trăm người bị khởi tố, xét xử về các tội danh hình sự như “gây rối trật tự công cộng,” hoặc “phá rối an ninh”… Cho dù họ chỉ thực hiện quyền tự do biểu tình, vốn là quyền mang tính cách hiến định của mình.

Năm 2013, sau khi tu chính Hiến Pháp, lẽ ra chế độ đã phải ban hành các đạo luật về lập hội và biểu tình để thực thi Hiến Pháp. Thế nhưng, cơ quan được giao trách nhiệm soạn thảo hai dự luật này là Bộ Công An liên tục trì hoãn, không đưa dự luật đến Quốc Hội để thông qua.

Dân Sài Gòn biểu tình chống Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng ở Sài Gòn tháng Sáu, 2018. Ảnh: Kao Nguyen/ AFP/ Getty Images
Dân Sài Gòn biểu tình chống Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng ở Sài Gòn tháng Sáu, 2018. Ảnh: Kao Nguyen/ AFP/ Getty Images

Trong một động thái bất ngờ, Tháng Mười, 2024, chế độ Cộng Sản đột ngột ban hành Nghị định số 126 để thực hiện quy định về quyền tự do lập hội. Thế nhưng, sau khi đọc qua nghị định có nội dung liệt kê hàng loạt rào cản pháp lý, các chuyên gia đều có chung đánh giá đây là nghị định cấm lập hội chứ không phải là nghị định cho phép lập hội.

Điểm qua một vài vấn đề cụ thể về việc cấm đoán các quyền tự do để cho thấy tư duy “Không quản được thì cấm” của chế độ Cộng Sản nói chung và Bộ Công An nói riêng, đã không chỉ phát sinh mà tồn tại như một chủ trương nhất quán và phổ biến đến mức độ nào.

Nhưng lúc này, ít nhất thì ông Tô Lâm, với tư cách là lãnh đạo cao cấp nhất đã lên tiếng chính thức thừa nhận tư duy “không quản được thì cấm” như là thực trạng đáng xấu hổ của chế độ cần phải từ bỏ. Thế nhưng, như thường lệ, từ chỗ nhận thức đến hành động là cả một quá trình, đôi khi kéo dài vô tận.

Cho nên, để bảo đảm không chỉ là sự “đánh trống bỏ dùi,” ông Tô Lâm nên chứng minh sự thành thực của mình bằng cách cho loại bỏ các tất cả các quy định hình sự được hình thành từ tư duy “Không quản được thì cấm” của chế độ, như điều luật 331 hoặc 117 đang cấm đoán quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân. Song song đó, trả tự do cho toàn bộ tù nhân chính trị đang thụ án trong chốn lao tù vốn đang là nạn nhân của các điều luật hình sự bất công nêu trên.

LS Đặng Đình Mạnh

Nguồn: Người Việt

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”