CSVN đổi lập trường vụ HD 981?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Sau 2 tháng ‘lình xình” trong nội bộ kể từ khi Bắc Kinh cho mang giàn khoan HD981 vào tận sân nhà của Việt Nam vào ngày 2/5 cho đến nay, bốn nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam đã có những phát biểu mà một vài dư luận đã vội đánh giá rằng đã có thái độ “cứng rắn” đối với các quan hệ hữu nghị với Trung Quốc hiện nay.

Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu: “Xây dựng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc nhưng không lùi bước trước sự đe dọa”.

Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: “Không đánh đổi chủ quyền để nhận lấy hữu nghị viển vông và lệ thuộc”.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu: “Chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải gìn giữ”.

Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “Gìn giữ hữu nghị với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng phải giữ vững chủ quyền”.

Tuy mỗi người phát biểu mỗi vẻ khác nhau, nhưng đều tập trung vào hai vấn đề “hữu nghị” và “chủ quyền” trong quan hệ ngày một phức tạp giữa CSVN và Trung Cộng hiện nay.

Đọc kỹ các phát biểu này rõ ràng là lãnh đạo Hà Nội không nhắm vào đối tượng chính là nhà cầm quyền Bắc Kinh mà là để nói cho người dân, hay đúng hơn là cho cán bộ và đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam nghe cho bớt bức xúc trước hành động hung hăng và bạo ngược của tàu hải giám Trung Cộng tấn công thô bạo vào các tàu cảnh sát biển của Việt Nam.

Nói cách khác là những leo thang các hành động ngang ngược của Bắc Kinh – qua vụ đâm nát tàu cảnh sát biển rồi còn tố ngược lại là do chính tàu Việt Nam gây sự, tấn công và những thái độ khinh miệt, gọi Việt Nam là “đứa con hoang đàng” phải “dạy cho một bài học” – đã phá vỡ lô cốt “tự kiềm chế để tránh những xung đột” của lãnh đạo Hà Nội bấy lâu nay, để nhích lên lằn ranh “chỉ trích Bắc Kinh” nhưng lại hướng vào dư luận Việt Nam chứ không phải Trung Cộng.

Đây là điểm then chốt mà chúng ta phải nhận diện cho rõ để không có những vọng động như một số người đã “bày tỏ” vui mừng rằng lãnh đạo Hà Nội đã thay đổi lập trường – từ mềm sang cứng – đối với Bắc Kinh.

Có người còn cho rằng các phát biểu nói trên còn biểu hiện sự thống nhất quan điểm của Bộ chính trị để “bật đèn xanh” cho phía chính phủ tiến hành vấn đề pháp lý kiện Trung Quốc ra tòa trọng tài Liên hiệp quốc nay mai.

Những phát biểu của bộ tứ còn được tô đậm thêm bằng màn biểu diễn mới đây của ông Nguyễn Tấn Dũng khi chủ tọa phiên họp chính phủ đầu tháng 7/2014 về cái gọi là “chuẩn bị cho tình huống xấu” nếu Trung Quốc tấn công về mặt kinh tế”.

Gọi đây là màn biểu diễn vì trong thực tế chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng không có khả năng đối phó nếu Trung Quốc thực sự gây khó khăn cho nền kinh tế của Việt Nam trên ba lãnh vực: 1/ Nguyên vật liệu sản xuất bao gồm các mặt hàng công nghiệp; 2/ Đóng cửa giao thương ở biên giới; 3/ Rút các gói thầu và đầu tư ra khỏi Việt Nam.

Rõ ràng là 2 tháng qua, chính sách bảo vệ chủ quyền bằng đường lối thương thuyết ngoại giao hòa bình của Hà Nội đã hoàn toàn thất bại. Nó đã không chỉ khiến cho Trung Quốc ngày càng hung hăng bạo ngược thêm trên biển Đông, mà còn tỏ thái độ khinh thị, coi thường ý chí chiến đấu của dân tộc Việt Nam khi chính bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đánh giá vụ HD 981 chỉ là “mâu thuẫn nhỏ trong gia đình”.

Ngoài ra, sự kiện quốc hội không ra nghị quyết về vụ giàn khoan HD 981 vì cho là tình hình chưa đến mức nghiêm trọng, đã như giọt nước làm tràn sự phẫn uất của dư luận nên vì thế mà lãnh đạo Hà Nội đã phải chữa cháy bằng một số phát biểu nói trên.

Tóm lại, toàn bộ các tuyên bố và xử sự của bộ tứ Hùng, Dũng, Sang, Trọng trong những ngày qua vẫn không có gì đột phá mang tính giải pháp mà chỉ là những trò múa may để “tự lừa”, nhằm khỏa lấp thái độ nhu nhược không dám có bất cứ hành động nào, đối với sự hung hăng trên biển Đông của Trung Cộng hiện nay.

Lý Thái Hùng
2/7/2014.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.