Cửa ải của công chức ở Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Công chức là một mắt xích quan trọng của các bộ máy chính quyền với nhiệm vụ điều phối các sinh hoạt trong đời sống quốc gia. Sự phát triển quốc gia đa số đến từ năng lực và hiệu quả làm việc của lực lượng này. Do đó mà hầu hết các quốc gia đã tổ chức đội ngũ công chức trong các bộ máy hành chánh độc lập với các đảng phái chính trị.

Tại Việt Nam, theo kết quả khảo sát thường niên PAPI (Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh) cho thấy, hiện tượng phải đưa tiền “lót tay” để xin được việc làm trong cơ quan nhà nước phổ biến trên phạm vi toàn quốc. Ngoài ra, mối quan hệ cá nhân với người có chức quyền trong hệ thống nhà nước được xem là yếu tố quyết định thành bại khi xin việc.

Thực tế này đã dẫn đến vấn nạn là phần lớn công chức nhà nước vô dụng, tham ô và nhũng nhiễu người dân. Tại sao?

Hiện nay Việt Nam có gần 4 triệu người đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nhưng qua khảo sát mới đây, chỉ có khoảng 30% số cán bộ, công chức làm được việc, 30% phải cầm tay chỉ việc và 30% dù cầm tay chỉ việc vẫn không biết cách làm. Nói cách khác là có quá bán số công chức vào công sở dưới chế độ xã hội chủ nghĩa không biết việc gì để làm.

Một lực lượng nhân sự khổng lồ nhưng năng lực yếu cùng quản lí bộ máy Nhà Nước đã dẫn đến hiện tượng nhiều cơ quan cùng làm một việc, nhưng lại đùn đẩy trách nhiệm và cuối cùng không ai làm. Như an toàn thực phẩm hiện nay có ba cơ quan như Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp, Bộ Công thương cùng phụ trách, nhưng an toàn thực phẩm vẫn đang là vấn đề đáng báo động.

Hệ quả trên đến từ một thực trạng là việc tuyển dụng nhân sự theo nhu cầu của đảng hơn là công việc. Công tác cán bộ làm không khách quan, chộp giật, tiêu cực, mua quan bán chức là hiện tượng phổ biến xuyên suốt chiều dài lịch sử cai trị đất nước của CSVN. Dư luận thường gọi đó là một cách tham nhũng “ghế”, tham nhũng quyền lực, tham nhũng chính trị.

Nhìn về quá khứ, sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, việc tuyển dụng công chức vào làm việc cho cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị được chính quyền CSVN thực hiện thông qua xét tuyển. Căn cứ để xét tuyển chủ yếu dựa vào lý lịch, sự trung thành mà không chú ý đến học thức và năng lực. Kết quả là sản sinh ra một thế hệ công chức yếu kém cả về năng lực chuyên môn lẫn đạo đức công vụ. Trong đó điển hình như bệnh chủ quan, tự mãn, bảo thủ, nói nhiều làm ít, lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân. Hậu quả là toàn bộ nền kinh tế xuống dốc, cả nước lâm vào nghèo đói và lạc hậu.

Từ năm 1995 đến nay, CSVN tuyển công chức dựa trên thi tuyển và bằng cấp. Nhưng cái chuẩn hóa đó rất nhanh chóng bị biến dạng. Thiếu niềm tin vào các kỳ thi tuyển công chức lâu nay đã trở thành tâm lý phổ biến trong xã hội. Nguyên nhân là do tổ chức thi tuyển thiếu khách quan và minh bạch.

Việc tổ chức thi thực ra chỉ là hình thức, còn kết quả thì đã được ngắm sẵn theo phương châm “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ”, không còn chỗ cho… trí tuệ. Minh chứng rõ nét nhất cho cách nhìn nhận trên là hiện tượng cả họ làm quan xảy ra trên khắp các tỉnh thành.

JPEG - 131.3 kb
Chen chân nộp hồ sơ thi tuyển công chức ở Bộ Công Thương. Ảnh: tinmoi.vn

Trong khi đó, những sinh viên giỏi sau khi ra trường rất ít hi vọng nếu họ không có quan hệ quen biết, hoặc dù may mắn lọt vào bộ máy nhà nước, nhưng nếu không có người “đỡ đầu” đừng mơ tưởng tới một vị trí cao.

Điều này đã gây nên sự bất bình đẳng, bức xúc lớn trong xã hội khi mà người có đủ năng lực lại không được trọng dụng. Nhưng số vụ việc được phát hiện, xử lý còn rất ít, chỉ như phần nổi của tảng băng. Và nếu có phát hiện vi phạm cũng đều giải thích là làm “đúng quy trình”.

Ví dụ rõ nhất của bệnh này là đại án tham nhũng ở vụ PMU18, khi “cháy nhà” bàn dân thiên hạ mới biết, hóa ra phần lớn cán bộ cấp Bộ toàn là học hành vớ vẩn nhưng là con cháu lãnh đạo nên được ấn vào. Ngoài ra, xu hướng được cho là ’thái tử đảng’, ’hạt giống đỏ’, cũng diễn ra rất phổ biến. Điển hình như ông Xuân Anh ở Đà Nẵng, ông Thanh Nghị ở Kiên Giang, ông Minh Triết ở Bình Định, và một loạt những Thái tử Đảng khác đưa lên ở những chức vụ nhỏ hơn như Giám đốc Sở…

Một bất cập khác của tuyển dụng công chức đó là, trong khi hầu hết các nhà tuyển dụng ở khu vực tư không coi trọng bằng cấp thì tại khu vực công, bằng cấp vẫn là tiêu chuẩn cứng quy định trong nhiều văn bản tuyển dụng, bổ nhiệm.

Người có bằng cấp cao đang được hưởng những chính sách ưu tiên, đặc cách. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rất nhiều quan chức chạy theo bằng cấp, thậm chí là hiện tượng mua bằng giả để dựa vào đó chạy chức, chạy quyền. Tạo điều kiện cho “tiến sĩ dỏm” leo cao, khiến cho nhân tài bị ém lại, làm nguyên khí quốc gia tù mù như ánh đèn dầu.

Tác hại tiếp theo của việc xem trọng bằng cấp là tạo ra sự ngộ nhận rằng bằng cấp có liên quan đến năng lực và tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Hậu quả là tạo ra một xã hội đề cao hư danh, và thế là người ta chạy theo cái hư danh đó mà sẵn sàng tìm giải pháp không chính đáng để cố giành giật, kiếm chác. Điều đó được thể hiện qua thực trạng lạm phát về chức danh tiến sĩ, thạc sĩ mà nghe qua số lượng ai cũng phải thở dài ngao ngán.

Chính ông Nguyễn Phú Trọng, trong phiên họp của Bộ chính trị vào sáng ngày 8 tháng 12 vừa qua, khi cho ý kiến về kết quả điều tra về công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ, lãnh đạo và quản lý đến năm 2020, đã nhắc lại một khuôn mẫu tệ hại trong bộ máy nhà nước: Quan hệ, tiền tệ, hậu duệ, cuối cùng mới là trí tuệ.

Nói tóm lại, vì sợ đảng mất khả năng chi phối trong xã hội nên lãnh đạo đảng CSVN luôn luôn tìm cách chi phối mọi sinh hoạt xã hội, dựa vào tầng lớp cán bộ đảng viên. Tuy nhiên, đã đến lúc CSVN cần xem công chức như là thành phần trí thức trong xã hội, thay vì xem họ như những công cụ để tham nhũng.

Họ cần một môi trường làm việc phù hợp có thể phát huy năng lực của mình. Bên cạnh đó, cần tạo dựng cơ chế để trao quyền tự chủ cho các tổ chức xã hội dân sự để họ phát hiện nhân tài, sau đó sàng lọc và đưa ra tranh cử. Nếu kéo dài tình trạng không có tranh cử thì đội ngũ cán bộ sẽ thoái hóa yếu kém về mặt kỹ thuật lẫn tri thức. Và hệ quả đau buồn là đất nước sẽ ngày càng tụt hậu.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”