Đài Loan cần phải nhất quán

Nguyễn Công Bằng

Nguyễn Công Bằng

Sự thiếu nhất quán của Đài Loan

Gần đây, sự thiếu nhất quán của Đài Loan trong việc khẳng định chủ quyền đang tạo ra khoảng trống để Bắc Kinh khai thác về mặt lập luận. Có lẽ, Đài Loan cần một học thuyết nhất quán về thời điểm và cách thức phản đối các tranh chấp lãnh thổ, ngay cả khi đưa ra những lập luận khác nhau với các quốc gia khác nhau.

Ngày 13/8, Cơ quan quản lý các vấn đề Đại lục của Đài Loan đã lên án mạnh mẽ cuộc tập trận hải quân Trung Quốc – Indonesia tại vùng biển phía Đông Đài Loan. Cơ quan này cáo buộc Bắc Kinh lợi dụng cuộc tập trận để tạo ra ấn tượng sai lệch rằng Trung Quốc đang thực thi quyền tài phán tại khu vực này, đồng thời gọi Trung Quốc là “kẻ gây rối.”

Tuy nhiên, phản ứng ban đầu của Đài Loan hồi tháng 5/2026, khi Nhật Bản và Philippines công bố kế hoạch đàm phán về các yêu sách hàng hải chồng lấn tại vùng biển mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền, lại hoàn toàn khác. Cơ quan ngoại giao Đài Loan khi đó cho biết sẽ yêu cầu các cơ quan đại diện kiểm tra và xác minh thông tin, trong khi nhà lãnh đạo Đài Loan Lại Thanh Đức nhấn mạnh rằng các thỏa thuận song phương về nghề cá đã có từ trước với Nhật Bản và Philippines sẽ bảo vệ quyền lợi của ngư dân Đài Loan. Chỉ sau khi các nghị sĩ phe đối lập nêu quan ngại về quyền đánh bắt cá và chủ quyền của Đài Loan, ngôn từ của hòn đảo này mới trở nên rõ ràng hơn về sự cần thiết phải tính đến các yêu sách của Đài Loan đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Cùng một vùng biển, nhưng cách diễn đạt lại rất khác nhau. Đài Loan không nhất thiết phải đối xử với một đối tác chiến lược theo cách giống như với một đối thủ vẫn đang đe dọa sử dụng vũ lực. Bản thân việc điều chỉnh linh hoạt cách tiếp cận không phải là vấn đề. Tuy nhiên, sự trái ngược trong các phản ứng đặt ra một câu hỏi khó hơn: Trên thực tế, nguyên tắc nhất quán nào đang chi phối cách Đài Loan khẳng định chủ quyền của mình?

Xu hướng này tiếp tục lặp lại. Tháng 7 vừa qua đánh dấu 10 năm kể từ khi có phán quyết trọng tài về Biển Đông năm 2016. Đây là dịp để Đài Loan tái khẳng định lập trường lâu nay rằng đảo Ba Bình (Taiping Island) là một hòn đảo chứ không phải một rạn đá. Phân biệt này quyết định liệu thực thể đó có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý theo luật biển hay không.

Năm nay, Đài Loan ban đầu có lập trường khá kiềm chế. Chỉ đến khi các nghị sĩ đối lập thuộc Quốc dân đảng (KMT) thúc đẩy vấn đề này tại một ủy ban lập pháp ngày 22/7, người đứng đầu cơ quan ngoại giao Lâm Giai Long mới khẳng định rõ: “Đảo Ba Bình đương nhiên là một đảo.” Lâm Giai Long cũng thừa nhận Đài Loan đã giữ thái độ kín tiếng vì các yêu sách của mình ở Biển Đông có sự chồng lấn đáng kể với các yêu sách của Bắc Kinh. Nếu công khai nhấn mạnh những yêu sách trên, Đài Loan có thể khiến quan hệ với các đối tác tiềm năng trở nên phức tạp hơn.

Lời giải thích đó có thể hiểu được về mặt chiến lược, nhưng đồng thời cũng cho thấy tình thế tiến thoái lưỡng nan nằm ở trung tâm chính sách chủ quyền của Đài Loan: Sự kiềm chế có thể phục vụ các lợi ích ngoại giao ngắn hạn, nhưng nếu thiếu một nguyên tắc được trình bày rõ ràng, cách tiếp cận này có thể bị coi là một cam kết có chọn lọc.

Một sự mơ hồ tương tự cũng thể hiện trong cách Đài Loan tiếp cận vấn đề quần đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku). Trong thời gian dài, vấn đề này được duy trì ở trạng thái ít gây căng thẳng trong quan hệ với Nhật Bản – có thể vì những lý do hợp lý – nhưng một lần nữa, Đài Loan không giải thích cách thức sự kiềm chế này phù hợp với một học thuyết rộng hơn như thế nào.

Sự thiếu nhất quán đó rất đáng lưu tâm, bởi Trung Quốc đang đồng thời vận dụng nhiều kênh để định hình cách hiểu của cộng đồng quốc tế về vị thế của Đài Loan. Sức ép quân sự trong “vùng xám” là biểu hiện dễ thấy nhất. Ít rõ ràng hơn nhưng có khả năng để lại tác động lâu dài hơn là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm củng cố các lập luận lịch sử và pháp lý.

Trung Quốc tích cực khai thác

Tháng 5/2026, Trung Quốc đã dựng một đài tưởng niệm tại khách sạn Mena House ở ngoại ô thành phố Cairo (Ai Cập), kỷ niệm Tuyên bố Cairo năm 1943 – cam kết của các nước Đồng minh về việc trao trả cho Trung Quốc những vùng lãnh thổ mà Trung Quốc cho là bị Nhật Bản chiếm đóng. Dòng chữ trên đài tưởng niệm viết: “Sự kiện Đài Loan trở về với Trung Quốc là một cấu phần quan trọng của chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và trật tự quốc tế thời hậu chiến.” Đài tưởng niệm này tạo ra một điểm tựa vật chất và lâu dài cho lập luận mà Bắc Kinh từ lâu xây dựng dựa trên Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam.

Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh cũng thúc đẩy lập luận tương tự. Hồi tháng 8/2025, ngoại trưởng Trung Quốc lập luận rằng Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam yêu cầu Đài Loan phải được trao trả cho Trung Quốc. Phía Đài Loan phản bác rằng Hiệp ước Hòa bình San Francisco, với tư cách là một văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc, đã thay thế các tuyên bố chính trị thời chiến đó, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chưa bao giờ cai trị Đài Loan.

Vấn đề không phải Đài Loan thất bại trong việc đáp trả Bắc Kinh; trên thực tế, Đài Loan đã phản bác. Vấn đề nằm ở chỗ những phản ứng này phần lớn mang tính tình thế và bị động – chủ yếu là những tuyên bố bác bỏ được đưa ra khi Bắc Kinh thúc đẩy một yêu sách cụ thể – thay vì là một phần của nỗ lực bền bỉ nhằm giải thích lập trường của chính Đài Loan trên trường quốc tế.

Vấn đề cũng không nằm ở chỗ Đài Loan thiếu sự quyết đoán nói chung, hay cần phải sao chép các chiến thuật của Bắc Kinh. Vấn đề sâu xa hơn là sự thiếu vắng một học thuyết nhất quán giải thích lý do tại sao chủ quyền lại được nhấn mạnh mạnh mẽ trước một chủ thể này, nhưng lại được đề cập một cách thận trọng hoặc hoàn toàn không nhắc tới trước những chủ thể khác.

Một học thuyết nhất quán không đòi hỏi Đài Loan phải phản đối mọi cuộc đàm phán có sự tham gia của một chính phủ thân thiện hay tối đa hóa mọi yêu sách bất kể cái giá phải trả. Điều cần thiết là Đài Loan phải giải thích những nguyên tắc quyết định khi nào đưa ra yêu sách, khi nào kiềm chế và cách những lựa chọn đó phù hợp với cam kết đã tuyên bố về một trật tự dựa trên luật lệ.

Nếu không có khuôn khổ như vậy, những tuyên bố về chủ quyền của Đài Loan có nguy cơ bị nhìn nhận là mang tính chiến thuật hơn là dựa trên nguyên tắc: Hữu ích trong việc thể hiện quyết tâm trước Bắc Kinh, nhưng ít rõ ràng hơn về cơ sở lập luận mà Đài Loan sẵn sàng nhất quán đưa ra với các đối tác của mình.

Khoảng trống này tạo ra những hệ quả vượt xa bất kỳ rạn san hô hay vùng đặc quyền kinh tế cụ thể nào. Mỗi khía cạnh trong lập trường biển và pháp lý của Đài Loan chưa được phát triển đầy đủ đều tạo thêm khoảng trống để Bắc Kinh định hình theo cách của mình – tại biển Hoa Đông, Biển Đông và trong cuộc tranh luận rộng hơn của cộng đồng quốc tế về vị thế của Đài Loan. Đài Loan không nhất thiết phải đưa ra cùng một lập luận về chủ quyền với mọi quốc gia, nhưng cần giải thích vì sao các lập luận đó khác nhau. Nếu không, Trung Quốc sẽ có cơ hội lớn hơn để đưa ra các lập luận thay cho hòn đảo, với những hệ quả có thể vượt ra ngoài phạm vi vùng lãnh thổ và vùng biển xung quanh Đài Loan.

Việt Nam cũng có sự tương tự

Việt Nam cũng có điểm giống với Đài Loan về vấn đề này. Ví dụ, hiện nay về lý thuyết, Việt Nam yêu sách toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm toàn bộ và tuyên bố công khai nhiều lần là Hoàng Sa là của Trung Quốc, không có tranh chấp với bất cứ ai. Hiện nay, Trung Quốc đang cho mở rộng đá Hải Sâm ở Hoàng Sa thành một căn cứ lớn nhất ở khu vực này. Khi Trung Quốc hoàn tất đá Hải Sâm thì sẽ có sức mạnh rất lớn ở đây.

Đối với quần đảo Trường Sa, hiện nay Việt Nam đã chiếm được 21 thực thể ở đây. Việt Nam cũng được coi là nhân tố thứ hai trong việc bồi lấp ở Biển Đông, có lẽ chỉ đứng sau Trung Quốc. Ở khu vực này, có rất nhiều đảo đá là do Việt Nam tuyên bố có quyền sở hữu, nhưng Việt Nam dù chiếm nhiều thực thể nhất, nhưng có rất nhiều đảo đá chưa rõ tên do nhà nước đặt ra sao? Chưa kể tại khu vực Trường Sa, có rất nhiều đảo đá cũng được Việt Nam tuyên bố quyền sở hữu mà phía Malaysia và Philippines cùng tuyên bố quyền sở hữu như thế đối với các đảo đá như vậy.

Qua các cuộc tranh luận tại quốc tế về các vấn đề này, rất nhiều người dân không hiểu được các quốc gia đang muốn gì ở đây. Có lẽ, Việt Nam phải đưa ra các tên đảo đá cùng với các tính chất kèm theo của các thực thể trên.-

 

The post Đài Loan cần phải nhất quán appeared first on Việt Tân.


Bài mới