Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lý Thái Hùng

Ngay sau khi lên làm tổng bí thư, ông Tô Lâm từng xác định “thể chế” là điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam. Nhưng trong các phát biểu gần đây, đặc biệt là trong Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới vào ngày 1 tháng 7, 2026, ông Tô Lâm công khai chỉ ra những giới hạn lớn của hệ thống, thông qua bảy điểm nghẽn đó là: Thể chế chưa đồng bộ; Pháp luật còn chồng chéo; Cấp xã chưa đủ năng lực thực thi; Phân bố biên chế và nguồn lực còn mang tính cào bằng; Chuyển đổi số còn yếu; Tài sản công, trụ sở, hồ sơ sau sáp nhập xử lý còn chậm; Không còn cấp huyện tạo ra khoảng trống chỉ đạo mới.

Nói cách khác, điểm nghẽn của Việt Nam đang chuyển từ thể chế trên giấy sang năng lực quản trị trong thực tế. Đây chính là dấu hiệu cho thấy sự giới hạn sâu hơn của mô hình phát triển hiện nay đã bắt đầu lộ rõ.

Từ những điểm nghẽn nói trên, có thể thấy bài toán phát triển dưới thời ông Tô Lâm không chỉ nằm ở việc sửa luật, tinh gọn bộ máy hay đẩy mạnh công nghệ. Những biện pháp ấy có thể tạo ra chuyển động ban đầu, nhưng chưa chắc tạo ra một cuộc chuyển hóa thật sự. Vấn đề sâu hơn là liệu Việt Nam có thể thay đổi được tư duy quản trị, khai mở năng lực con người và xây dựng một môi trường xã hội đủ tự do để phát triển bền vững hay không.

Thứ nhất, nếu chỉ đặt mục tiêu phát triển mà không thay đổi tư duy con người, thì mọi cải cách vẫn có nguy cơ dừng lại ở hình thức. Một bộ máy có thể được sắp xếp lại, một số luật có thể được sửa đổi, một số khẩu hiệu mới có thể được đưa ra, nhưng nếu cán bộ vẫn sợ trách nhiệm, xã hội vẫn thiếu niềm tin, doanh nghiệp vẫn bị ràng buộc bởi xin – cho, và người dân vẫn không có không gian để tự do sáng tạo, thì phát triển khó có thể đi xa. Phát triển không chỉ cần cơ chế mới, mà cần con người mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám sáng tạo.

Thứ hai, bộ máy có thể thay đổi, nhưng nếu quyền lực thống trị vẫn đặt an ninh chính trị cao hơn sự khai mở xã hội, thì cải cách sẽ gặp giới hạn rất lớn. Một xã hội muốn sáng tạo phải có tự do tư duy, tự do trao đổi, tự do phản biện và một mức độ tin cậy nhất định giữa nhà nước với người dân. Nếu mọi khác biệt đều bị nhìn bằng con mắt an ninh, nếu phản biện bị xem là nguy cơ, nếu xã hội dân sự bị kiểm soát quá chặt, thì làm sao có thể tạo ra một môi trường sáng tạo đúng nghĩa? Không thể đòi hỏi người dân sáng tạo trong kinh tế nhưng lại bị bó hẹp trong tư duy chính trị và xã hội.

Thứ ba, tầm nhìn phát triển hiện nay vẫn còn nặng về vật chất. Đường cao tốc, đường sắt, đô thị lớn, hạ tầng số, trí tuệ nhân tạo và các khu công nghiệp là cần thiết. Nhưng đó mới là phần bên ngoài của phát triển. Động lực sâu nhất của phát triển vẫn là con người. Nếu con người bị nhốt trong vòng kiểm soát tư duy, nếu giáo dục không khai phóng, nếu đại học không có tự chủ, nếu doanh nghiệp tư nhân không được cạnh tranh công bằng, nếu người dân không được bảo đảm quyền sở hữu và quyền tự do căn bản, thì mọi công trình hạ tầng dù lớn đến đâu cũng chỉ tạo ra một diện mạo phát triển bên ngoài. Một quốc gia có thể có nhà cao tầng, xa lộ và công nghệ hiện đại, nhưng vẫn không trở thành một quốc gia tiên tiến nếu con người không được giải phóng khỏi sợ hãi và lệ thuộc.

Thứ tư, bài học thành công của Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan cho thấy phát triển bền vững không chỉ là xây dựng hạ tầng hay thu hút đầu tư. Đó là quá trình canh tân lâu dài về con người và xã hội. Nhật Bản sau chiến tranh đứng dậy nhờ kỷ luật, giáo dục, tinh thần quốc gia và năng lực học hỏi. Nam Hàn vươn lên không chỉ vì công nghiệp hóa, mà vì đã xây dựng được một xã hội coi trọng giáo dục, cạnh tranh, sáng tạo và ý chí dân tộc. Đài Loan thành công nhờ kết hợp công nghệ, doanh nghiệp tư nhân, giáo dục, pháp quyền và từng bước dân chủ hóa. Những quốc gia ấy không chỉ phát triển; họ canh tân.

Đây chính là khoảng trống lớn nhất trong mô hình phát triển của ông Tô Lâm. Trong các phát biểu của mình, ông nhấn mạnh đến phát triển, hiệu năng quản trị, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và năng lực thực thi. Đó đều là những mục tiêu cần thiết. Nhưng chúng vẫn chưa trả lời được câu hỏi quan trọng hơn: Phát triển để làm gì và vì ai?

Nếu mục tiêu sau cùng của phát triển là duy trì tính chính danh của một hệ thống quyền lực, thì mọi cải cách sẽ tự nhiên hướng về việc làm cho bộ máy vận hành hiệu quả hơn, kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và xã hội ổn định hơn. Khi ấy, con người trở thành phương tiện phục vụ cho sự phát triển của nhà nước.

Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là phẩm giá của con người và tương lai của dân tộc, thì toàn bộ tư duy phát triển phải thay đổi. Phát triển kinh tế khi đó không còn là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện để giải phóng năng lực sáng tạo của mỗi người Việt Nam; để xây dựng một xã hội tự do hơn, một nền giáo dục khai phóng hơn, một thể chế khuyến khích trách nhiệm, sáng tạo và lòng tin; để mỗi người có cơ hội phát triển toàn diện cả về tri thức, nhân cách và khả năng đóng góp cho đất nước.

Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa phát triểncanh tân. Phát triển chủ yếu làm thay đổi diện mạo vật chất của quốc gia: Đường sá, nhà máy, đô thị, hạ tầng và công nghệ. Canh tân làm thay đổi phẩm chất của dân tộc: Cách con người suy nghĩ, học tập, sáng tạo, hợp tác và tự chịu trách nhiệm đối với tương lai của mình. Phát triển có thể tạo ra của cải trong một giai đoạn; nhưng chỉ có canh tân mới tạo ra năng lực tự đổi mới liên tục của cả một dân tộc qua nhiều thế hệ.

Vì vậy, điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển. Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Muốn Việt Nam thật sự bước sang một thời đại mới, không thể chỉ phát triển bộ máy, hạ tầng hay công nghệ. Việt Nam cần một cuộc Canh Tân theo đúng nghĩa của từ này: Canh tân con người, canh tân giáo dục, canh tân thể chế, canh tân văn hóa chính trị và canh tân môi trường xã hội. Khi con người trở thành mục tiêu của phát triển thay vì là công cụ của phát triển, đất nước mới có thể tạo ra nội lực đủ mạnh để vươn lên bền vững trong thế kỷ XXI.

Lý Thái Hùng
8 tháng 7, 2026

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuộc chiến pháp lý tháng 7/2016 – Chiến thắng của công lý

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chạy đua vũ trang đang định hình lại cục diện Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhiều người đang cho rằng luật pháp quốc tế dường như đang lép vế trước sức mạnh quân sự. Cột mốc 10 năm Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 là dịp để tái định giá mối quan hệ giữa “luật pháp” và “sức mạnh.”

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”