Độc đảng thì đã sao?!

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ít ai biết “Lú” là căn bệnh mang tính ghiền. Người bệnh khó cưỡng lại áp suất bộc phát của nó.

Sau những lời khen ngợi từ nhiều phía về hiện tượng TBT Nguyễn Phú Trọng không có tuyên bố dại dột nào trong suốt chuyến đi Mỹ vào đầu tháng 7/2015, thì nay chứng bệnh của ông đã tái phát, và ngay trước ngày lên đường đi Nhật xin viện trợ vào giữa tháng 9/2015.

Để trả lời câu hỏi của báo chí Nhật ngày 12/9 về tuổi thọ của loại thể chế độc tài nay đã trở nên “rất hiếm” và chỉ còn tại vài nước như Việt Nam, ông Trọng dùng nhiều từ ngữ văn hoa và khá dông dài nhưng đại ý có thể tóm gọn thành: Thể chế độc đảng cũng tốt thôi. Thể chế tại Việt Nam đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân nên nó sẽ sống lâu bền.

Khá rõ ông Nguyễn Phú Trọng đắc ý với phát biểu này và đã cho báo chí đăng tải hàng loạt. Có lẽ chính vì vậy mà chẳng có vị cố vấn nào, đặc biệt bên Bộ Ngoại Giao, dám chỉ ra giùm ông các điểm “lú” đã quá hiển nhiên. Thế giới ngày nay đã nghe quá nhiều lần và tởm loại giải thích đó lắm rồi. Từ những tay độc tài nổi tiếng du đãng như Hugo Chávez của Venezuela đến anh em lãnh tụ Castro của Cuba đến ngay cả đám hồi giáo cực đoan ISIS đều dùng luận điểm đó. Tóm tắt đó là loại lý luận láu cá và đã quá nhàm.

Tại sao thế giới xem đó là loại lý luận “láu cá”? Câu trả lời nằm ở chỗ: đâu là nguyện vọng của nhân dân. Ngày nay thế giới đã biết rõ cái gọi là “nguyện vọng của nhân dân” trên báo đài do đảng độc quyền kiểm soát khác xa những nguyện vọng do chính người dân bày tỏ, đặc biệt qua phương tiện mạng Internet. Trong trường hợp Việt Nam, các thí dụ về sự khác biệt có thể thấy đầy rẫy trong mọi lãnh vực:

– Trong khi dân muốn xây những cây cầu đơn sơ đủ để trẻ em đi học không chết đuối hàng ngày thì lãnh đạo đảng bảo dân muốn xây các tượng đài ở cấp ngàn tỉ.

– Trong khi dân ai oán cảnh biển nước bao la ngay giữa lòng Hà Nội, Sài Gòn và nhiều thành phố lớn thì đảng bảo dân muốn vắt hết ngân quĩ quốc gia xây đường cao tốc, lò nguyên tử, và phi trường quốc tế.

– Trong khi dân lo âu về các hiểm hoạ chủ quyền, các đe dọa môi sinh, và tiềm năng lỗ lã nặng nề nếu khai thác Bôxít Tây Nguyên thì lãnh đạo đảng khẳng định đại khối nhân dân ủng hộ “chủ trương lớn của đảng”.

– Trong khi ngư dân Việt sợ hãi, bơ vơ trước mũi súng của hải quân Tàu, chẳng thấy bóng dáng hải quân Việt ở đâu thì lãnh đạo đảng ghi nhận tinh thần ngư dân tình nguyện bám biển, quyết làm “cột mốc sống”.

– Trong lúc dân sôi sục xuống đường phản đối TQ xâm lược và kêu gọi bảo vệ đất nước thì lãnh đạo đảng tuyên bố tại Bắc Kinh nhân dân Việt Nam trân quí 16 chữ vàng và thề hứa sẽ “giải quyết triệt để” những người Việt biểu tình.

– Và vô vàn thí dụ khác nữa.

Cùng lúc đó, người dân nào dám vận động nhiều người cùng nói lên nguyện vọng thật của đồng bào mình đều bị liệt ngay vào thành phần phản động, bị kết án theo đủ loại điều luật hình sự, và bị bịt miệng trong tù ngục. Chí ít họ cũng bị đủ loại “công cụ bạo lực cách mạng” đến tận nhà chăm sóc. Có thể nói hiện nay, cả giới truyền thông quốc tế và các sứ quán nước ngoài có mặt tại Việt Nam đều đã nhận chân sự thật: thể chế độc tài tại Việt Nam tồn tại không dựa trên nguyện vọng của người dân mà dựa trên khả năng bóp chết các nguyện vọng đó.

Và vì vậy, câu trả lời của ông Trọng với báo chí Nhật về thể chế độc tài hiện nay sẽ tiếp tục sống hùng sống mạnh cũng tương đương với lời đảm bảo gởi tới dân Nhật rằng: các quan chức đảng CSVN chắc chắn sẽ chia nhau số tiền viện trợ mà ông … sắp xin chính phủ Nhật.

Lý do đơn giản là vì chế độ độc đảng hiện nay không có cơ chế nào đối trọng hay giám sát. Nó vừa không có khả năng vừa không muốn ngăn chận nạn tham nhũng nữa. Bình quí nay đã là nhà chung của tất cả họ chuột, như chính ông Trọng đã nói. Tệ nạn rút ruột ODA trong quá khứ sẽ chỉ có thể trầm trọng hơn trong tương lai vì số chuột sinh sản ngày một đông hơn. Chế độ độc tài này cũng sẽ tiếp tục phung phí mọi nguồn viện trợ và tài nguyên quốc gia vào những dự án sai nhu cầu nhưng khổng lồ ở hàng chục tỉ mỹ kim để chia nhau. Nghĩa là viện trợ cho Việt Nam chỉ như muối bỏ biển.

Và quan trọng hơn nữa, chế độ độc đảng đầy những người tham lam đó cũng sẽ tiếp tục lén lút bán đứng nhiều loại chủ quyền Việt Nam cho Bắc Kinh khi giá đủ cao, trong lúc tiếp tục nhận viện trợ từ các nước chống Bắc Kinh. Đặc biệt nghiêm trọng là việc tiếp tục cho phép các căn cứ của công nhân TQ trá hình hiện diện tại những vùng trọng yếu trên đất nước Việt Nam.

Trên căn bản biết nhau quá rõ đó, giới quan sát có thể thấy chính sách của chính phủ Nhật chỉ nhắm tách rời anh du đãng nhỏ Hà Nội ra càng lâu càng tốt, để hy vọng giảm bớt vây cánh của anh du đãng lớn Bắc Kinh mà thôi, chứ không mơ hồ gì về bản chất du đãng của cả hai.

Thật đau lòng cho dân tộc Việt Nam khi những tấm bảng cảnh cáo kẻ cắp chỉ viết bằng tiếng Việt tiếp tục xuất hiện ngày càng nhiều tại các thành phố lớn tại Nhật, bồi thêm bằng những bản tin và hình ảnh trên đài truyền hình về các vụ buôn hàng lậu, hàng ăn cắp của nhân viên hàng không và các viên chức nhà nước Việt Nam, rồi đến tin từng đoàn lãnh đạo đảng CSVN lần lượt đến nước này xin tiền viện trợ. Cảnh đón tiếp lịch sự của thủ tướng Abe đối với phái đoàn ông Nguyễn Phú Trọng không xóa được chút nào hình ảnh thực tế hiện nay trong đầu cả công luận lẫn chính phủ Nhật, và chỉ làm câu nói của Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Hoàng Bình Quân trên báo Nhật “Hai nước luôn có sự tin cậy, tôn trọng nhau, coi trọng lẫn nhau” càng thêm mỉa mai, oái oăm, và đau lòng cho những người Việt còn tự trọng dân tộc.

Liệu còn ai muốn hỏi “độc đảng thì đã sao” nữa không?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.