Giành Lại Quốc Hội Về Tay Nhân Dân

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Điều 83 trong Hiến Pháp nước CHXHCNVN hiện nay quy định:

‘Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.’

Điều này có nghĩa Quốc Hội là cơ chế quyền lực mẹ của nhà nước và từ dân, do dân và vì dân như Hiến Pháp khẳng định trong phần mở đầu qua Điều 2.

Thế nhưng trên thực tế hiện nay Quốc Hội lại không thuộc về nhân dân mà là của Đảng, do Đảng, và cho Đảng. 90% đại biểu là đảng viên Đảng CSVN trong khi Đảng viên CSVN chưa đầy 2.5% dân số cả nước. Các ứng viên Đại Biểu QH là do Đảng thanh lọc và đề cử qua Mặt Trận Tổ Quốc và nhân dân chỉ bầu cho có hình thức chuẩn nhận cho những người Đảng Cử này thành Đảng biểu chính thức. Cho nên từ trước đến nay Quốc Hội thành một cơ chế bù nhìn làm cảnh cho Đảng lãnh đạo. Vì thế, Đảng cứ tự tiện ký kết những hiệp định nhường đất và biển cho Trung Quốc mà không cần thông qua sự bàn thảo tại Quốc Hội và Quốc Hội cứ thế mà phê chuẩn.

hiện nay Quốc Hội lại không thuộc về nhân dân mà là của Đảng, do Đảng, và cho Đảng

Tình trạng Quốc Hội VN là cơ chế đảng cử đảng biểu này sẽ tiếp tục kéo dài chừng nào mà nhân dân VN vẫn mặc nhiên chấp nhận nó, coi đó là số kiếp của mình, không thể làm gì khác hơn. Một vài nỗ lực của một số nhà đấu tranh cho dân chủ để chen chân vào Quốc Hội đã không lọt qua được màng lưới lọc loại của Mặt Trận Tổ Quốc, một vài lên tiếng dò dẫm của một số đại biểu Quốc Hội ngoài đảng, rón rén thể hiện chức năng đại biểu Quốc Hội đúng nghĩa của mình, vẫn chưa đủ để mang Quốc Hội trở về tay nhân dân. Nhưng nếu phân tích lại cho kỹ, thì việc nhân dân giành lại Quốc Hội về tay mình theo đúng Hiến Pháp là điều khả thi nằm trong tầm tay của người dân.

Nếu nhìn Quốc Hội như là một cơ chế vô hồn do Đảng lãnh đạo khống chế, thì quả là khó thay đổi. Vì một phần lớn sức mạnh của chế độ CS là sự ràng buộc trong cơ chế, và một trong những nguyên nhân khiến chế độ này làm bao nhiêu điều sai trái, một cách vô trách nhiệm chính cũng là ở cơ chế. Con người CS từ bộ chính trị sang Quốc Hội, xuống đến cấp địa phương đều núp sau cơ chế để không ai nhận lãnh một trách nhiệm cá nhân nào cả. Cơ chế là bình phong, là cha chung không ai khóc khi sai trái. Và cứ thế các đại biểu Quốc Hội sẽ vẫn là đảng biểu an toàn sau cơ chế Quốc Hội, chừng nào mà nhân dân cứ vẫn để họ yên ổn đằng sau cơ chế này, và cứ vẫn đương nhiên coi họ là đảng biểu bù nhìn cho Đảng, nên không thèm liên hệ làm chi cho mất thì giờ vô ích.

Từ trước đến nay, các dân oan khiếu kiện đã tranh đấu ròng rã bao năm trời trong bế tắc vì nhắm hướng vào bức tường vô cảm của cơ chế nhà nước. Có biểu tình trước văn phòng Quốc Hội chung chung kêu réo chủ tịch Quốc Hội chung chung thì cũng thế thôi, vì cứ chỉ nhắm vào cơ chế mà đòi hỏi. Thử tưởng tượng, nếu dân oan ta chuyển đối tượng, nhắm ngay vào từng cá nhân đại biểu Quốc Hội, đại diện cho địa phương mình. Tức là những người gần gũi trực tiếp với mình nhất (trên nguyên tắc), họ sẽ không thể né tránh được. Mang đơn khiếu kiện đến tận nhà, tận tay họ; tạo áp xuất để họ phải thể hiện chức năng đại biểu nhân dân đúng nghĩa, nói lên nguyện vọng của cử tri của họ. Đây cũng là cung cách hành xử của cử tri các xứ dân chủ văn minh. Cá nhân những đại biểu Quốc Hội này sẽ phải thấy họ đứng trước sự lựa chọn: một bên là áp lực từ Đảng, bên kia là áp xuất từ bao cử tri trực tiếp hằng ngày, hằng giờ. Một bên là chỗ dựa vào Đảng và bên kia là chỗ dựa vào người dân sát chung quanh họ, trực tiếp gần gũi với đời sống hằng ngày của họ; cộng với chỗ dựa trên văn bản chính thức là Hiến Pháp như qua Điều 97:

“Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.

Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó….”

Trong sự tranh giành như trên với Đảng về ảnh hưởng lên từng đại biểu Quốc Hội của mình, người dân có nhiều cơ may thắng thế hơn. Những đại biểu dù có là đảng viên trung thành với quyền lợi Đảng, sẽ khó mà cảm thấy yên ổn lương tâm, bình thản trong ghế đại biểu của họ khi phải đi ngược lại quyền lợi và nguyện vọng của cử tri hằng ngày kêu rên bên mình, nhất là khi họ thấy những đồng nghiệp giác ngộ sớm, đứng bên nhân dân được cử tri càng thêm tin tưởng thương yêu. Những ứng viên đại biểu Quốc Hội sẽ phải suy nghĩ kỹ hơn xem mình có chịu nổi áp xuất của chức năng đại biểu thực sự không, trước khi nhận cho đảng cử. Từ đó, quy trình đảng cử dân bầu sẽ dần dần mất tác dụng gạn lọc cho Đảng.

Khi có nhiều đại biểu trở về với nhân dân, thực hiện đúng chức năng đại biểu quốc hội của mình, tích cực bênh vực tiếng nói của cử tri mình, thì sẽ dễ tạo một làn sóng lây lan trong Quốc Hội, để Quốc Hội mau trở về với nhân dân, giành lại quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại (Điều 83 Hiến Pháp), quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (Điều 84). Như thế Đảng sẽ không còn có thể tuỳ tiện bán đất, nhường biển, dâng Tây Nguyên cho đàn anh Cộng sản Trung quốc.

Mầm dân chủ như thế sẽ thăng hoa. Khi người dân có tâm thức và hành xử dân chủ, đòi hỏi từng đại biểu của mình làm đúng chức năng hiến pháp quy định. Cơ chế cũng sẽ phải dần chuyển hướng theo [chiều dân chủ]; thay vì chiều ngược lại, cứ phải chờ đợi có cơ chế dân chủ rồi mới xây tâm thức và hành xử dân chủ.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”