Hệ lụy từ những cuốn giáo trình chính trị

Hơn 80% thí sinh TP.HCM có điểm thi môn sử dưới trung bình trong kỳ thi Trung học phổ thông 2018. Có phải học sinh đã "chán" môn học lịch sử? Ảnh: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tại Việt Nam, môn sử đang trở nên rẻ rúng hơn bao giờ hết, người học chán bao nhiêu thì có lẽ người dạy cũng chán bấy nhiêu. Phải chăng, cuốn sách giáo khoa lịch sử đang trở thành cuốn giáo trình chính trị, là gốc rễ của vấn đề?

Kỷ lục buồn

Ngày 9/7, báo Tuổi Trẻ online cho đăng tải bản tin với nội dung hơn 80% thí sinh TP.HCM dưới trung bình môn sử trong cuộc thi Trung học phổ thông Quốc Gia. Bản tin cho biết: “Năm nay, môn lịch sử có đến 80,9% thí sinh ở TP.HCM điểm thi dưới trung bình, chỉ có 19,1% thí sinh đạt từ 5 điểm trở lên; số thí sinh từ 8 điểm trở lên là 0,36%”. Cũng theo bản tin này, tại khu vực thi TP.HCM không có thí sinh nào đạt điểm 10 môn lịch sử.

Các môn thi khác thì sao? Theo Tuổi Trẻ, môn địa lý có hơn 35% thí sinh có điểm dưới trung bình, môn giáo dục công dân có hơn 1,4% thí sinh dưới điểm trung bình, môn vật lý có hơn 46% dưới điểm trung bình, môn hóa có hơn 50% dưới điểm trung bình, môn sinh có hơn 62% dưới điểm trung bình, môn toán có hơn 30% dưới điểm trung bình, môn văn có gần 28% dưới điểm trung bình, môn ngoại ngữ có gần 52% dưới điểm trung bình. Môn lịch sử đã đạt một kỷ luật buồn. Và có lẽ, con số thống kê ở TPHCM cũng đại diện cho “kỷ lục buồn” trên cả nước. Nhưng, kỷ lục buồn này đã thường xuyên hiện diện trước đó với rất nhiều hình thức.

Không thể phủ nhận một thực tế rằng, học sinh trung học phổ (THPT) đã chán môn học lịch sử từ lâu. Điển hình, vào năm 2013, khi học sinh biết sử là môn tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và không phải là môn xét tuyển đại học, nhiều học sinh đã xé đề cương lịch sử rồi rải trắng sân trường. Hay gần đây hơn, trong năm 2015, môn lịch sử bị ghét đến nỗi tại trường phổ thông Yên Thành 2 (Nghệ An), chỉ có một thí sinh thi môn sử, trong khi nhà trường vẫn phải bố trí 66 cán bộ coi trông và làm đề thi. Đây không phải là vấn đề chỉ riêng một trường, một cơ sở giáo dục hay một vùng gặp phải, mà là một thực trạng chung, một vấn nạn mà cả ngành giáo dục và xã hội đang phải đương đầu.

Vào ngày 4/7/2016, trong kỳ thi THPT môn lịch sử, chỉ lèo tèo thí sinh thi môn lịch sử, nhiều điểm thi không có thí sinh nào. Cũng trong năm 2016 này, Nghệ An có 34.000 học sinh đăng ký thi PTTH quốc gia, đông nhất cả nước, nhưng chỉ có gần 3.000 học sinh thi môn sử, thấp nhất trong lịch sử thi môn này. Nhiều điểm thi của Nghệ An hoàn toàn không có học sinh thi môn sử. Cũng trong kỳ thi THPT năm 2016, tại Cần Thơ chỉ có 357 học sinh dự thi môn sử.

Cách đây 30-40 năm về trước, tại Việt Nam, môn lịch sử là môn được học sinh yêu thích. Khoa sử ở các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm luôn có số giáo sinh cao hơn giáo sinh khoa văn. Và, cũng 30-40 năm về trước, người dân Việt Nam quan tâm đến lịch sử, hay bàn luận về các vấn đề lịch sử. Nhưng, tình thế đã thay đổi.

Vì sao? Lối thoát nào?

Có ý kiến cho rằng, môn học này quá khô khan, các dữ liệu ngày/tháng/năm và nội dung dễ gây cảm giác buồn ngủ cho người nghe. Cũng có ý kiến đổ lỗi cho giáo viên giảng bài không hấp dẫn, không lôi cuốn được học sinh. Từ tâm lý thời cuộc, nhiều người cho rằng, xã hội Việt Nam đang chạy theo trào lưu làm ăn kinh tế, con người, trong đó có học sinh phổ thông, sống thực dụng hơn, nên họ không thích quay về quá khứ, không thích học môn sử. Một giáo viên dạy sử đề nghị giấu tên nói với người viết bài này rằng: “Nếu tôi dạy các em theo đúng sách giáo khoa, các em rất ngán học, rất uể oải. Tự bản thân tôi cũng thấy không hứng khởi khi phải dạy theo sách giáo khoa. Có lẽ sách giáo khoa môn sử đã có vấn đề? Nếu tôi dạy chệch sách giáo khoa một chút, không khí lớp học tự nhiên sôi nổi hẳn lên. Các em tranh luận và cãi cọ nhau hào hứng lắm. Còn  trong giờ giảng bài mà tôi cập nhật cho học sinh tin tức thời sự, thông tin quốc tế thì học sinh rất phấn khích, rất chăm chú theo dõi, và có nhiều bình luận lý thú. Chắc chắn, sách giáo khoa môn sử đã có vấn đề!”.

Một phụ huynh là ông Tôn Đức Hoài ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn, cũng nhìn nhận rằng, sách giáo khoa lịch sử là nguyên nhân gây ra việc chán học sử ở các em học sinh. Ông nói: “Lật trang nào cũng thấy đánh nhau, cũng thấy chiến tranh và xâm lược. Tâm lý bọn trẻ bây giờ đã khác, chúng nó muốn bình yên và nhân bản. Sao không dạy cho bọn trẻ vì sao trong lịch sử các triều đại cứ thay nhau suy tàn? Vì sao không dạy cho học sinh vì sao mà đất nước mình luôn luôn có chiến tranh? Hãy đưa sự thật lịch sử đến với bọn trẻ!”. Từ lâu, nhiều nhà sử học Việt Nam đã lặng lẽ nói với nhau rằng, bộ môn lịch sử đã trở thành cuốn giáo trình tuyên truyền thô thiển về sự vĩ đại, về sự quang vinh. Môn lịch sử là môn học bị chính trị hóa sâu sắc nhất, trầm trọng nhất trong các môn học xã hội. Lịch sử Việt Nam không được viết bởi các sử gia mà được viết bởi chính quyền thông qua các “sử nô”. Và điều gì đến đã đến.

Khi một nữ thiếu niên có đời sống tâm thần không được bình thường thực hiện hành vi khủng bố lại được tôn vinh như siêu anh hùng; khi một nhân vật hoàn toàn không có thật, hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng là Lê Văn Tám được dựng tượng vào trí óc non nớt của trẻ thơ, môn lịch sử sẽ bị chán ghét, và kéo theo đó là hệ lụy buồn thê thiết: lịch sử của dân tộc đang dần bị lãng quên. Khi mà trong sách lịch sử luôn minh định ta luôn luôn thắng, địch luôn luôn thua, khi mà số thương vong của quân địch luôn cao ngút ngàn trong khi không hề đưa ra số liệu thương vong của quân ta, môn lịch sử đã trở nên nhàm chán và dối trá. Điều gì đến đã phải đến.

Viết lại lịch sử Việt Nam là một yêu cầu khẩn thiết, dù rằng lịch sử không thể thay đổi được, để gầy dựng lại những tâm hồn đã bị méo mó từ lâu, để vun đắp lại những bộ óc đã bị bóp nghẹt từ lâu, để tái tạo những nhân cách đã còi cọc từ lâu.

Nguồn: Trí Việt News

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”