Hôm nay “Đặc khu, 99 năm”, ngày mai “Toàn Việt Nam, 1.000 năm”

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Từ nhiều năm qua, rất đông dư luận thắc mắc về mật ước Thành Đô xảy ra vào năm 1990, qua đó các lãnh đạo CSVN là Đỗ Mười – Nguyễn Văn Linh – Phạm Văn Đồng đã đồng ý với lãnh đạo Bắc Kinh vào lúc đó là Giang Trạch Dân – Lý Bằng để Việt Nam trở thành một quận huyện của Trung Cộng vào năm 2020.

Dù sự hiện hữu của mật ước nói trên không được xác nhận, nhưng theo dõi cuộc thảo luận của Quốc Hội hiện nay, ai cũng thấy rằng dường như lãnh đạo CSVN đang lật lá bài tẩy mật ước, từng bước trắng trợn công khai hoá việc “giao hàng”, giao đất, giao biển và cuối cùng là giao toàn bộ nước Việt Nam cho Trung Cộng.

Khởi đi từ cái gọi là Công Hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, theo đó Phạm Văn Đồng, ở cương vị Thủ Tướng Chính Phủ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đã công nhận Quần Đảo Hoàng Sa (lúc đó thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà) thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Đây là văn kiện đầu tiên, lãnh đạo CSVN từ đó đã có những bước đi vững chãi trong tiến trình thực hiện Hiệp Định Thành Đô, biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Cộng.

Thực tế là đến năm 1974, khi Trung Cộng tấn công bằng vũ lực và trắng trợn chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì CSVN lặng thinh không một lời phản đối, đúng theo tinh thần bán nước của Công Hàm Phạm Văn Đồng năm 1958.

Và 14 năm sau, năm 1988, tức là 13 năm sau khi CSVN nắm trọn quyền trên đất nước, Đảng và Nhà Nước CSVN đã nhẫn tâm ra lệnh cho Quân Đội không được bắn trả và để cho 64 binh sĩ Việt Nam bị tàn sát thảm thương trước họng súng của Trung Cộng ở Đảo Gạc Ma và để Quần Đảo Trường Sa mất vào tay chúng. Hai năm sau đó, năm 1990, cái gọi là Hội Nghị Thành Đô như đề cập bên trên diễn ra mặc dù các lãnh tụ chóp bu của Đảng và Nhà Nước CSVN cố tình giấu nhẹm. Và kể từ đó nhiều sự kiện đã lần lượt xẩy ra, phù hợp với những chi tiết được rò rỉ liên quan đến nội dung của mật ước. Đó là:

  • Năm 1995, theo báo cáo của Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch – Đầu Tư Võ Hồng Phúc thì Việt Nam đã cho Trung Cộng thuê rừng. Diện tích rừng đã cho Trung Cộng thuê để khai thác được ước lượng đã lên tới 340.000 hecta, là một diện tích khổng lồ và nằm ở những địa điểm có tích cách chiến lược quân sự nên là một mối nguy cho an ninh, chính trị và quốc phòng Việt Nam.
  • Tình trạng người Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam mà không có sự kiểm soát hay giới hạn của Nhà Nước CSVN để sinh sống, mua đất, mua nhà, lấy vợ người Việt sinh con đẻ cái, được tin là nằm trong kế hoạch tằm ăn dâu của Trung Cộng. Ở Đà Nẵng và nhiều địa phương khác, tình trạng “Tàu hoá” đã trở thành phổ biến và quá đà khiến người dân Việt tại địa phương bực tức và lo ngại. Những khu phố Tàu với khách sạn, khu nghỉ mát, nhà cao tầng và chữ Tàu hiện diện khắp nơi. Một tình thế được đánh giá là tiến thoái lưỡng nan.
  • Năm 1999, với Hiệp Ước về Biên Giới và Hiệp Ước về Lãnh Hải năm 2000, CSVN đã giao cho Trung Cộng Ải Nam Quan 800 cây số vuông đất ở vùng biên giới Việt Hoa và 11.000 cây số vuông lãnh hải ở Vịnh Bắc Bộ.
  • Năm 2002 cho công ty Formosa của Đài Loan với sự cố vấn của Trung Cộng vào xây dựng nhà máy luyện Thép tại Vũng Áng, Hà Tĩnh, đưa hàng ngàn công nhân Trung Quốc vào sống và làm việc. Đến tháng 4 năm 2016, nhà máy thép này đã gây ra thảm trạng ô nhiễm trầm trọng biển miền Trung Việt Nam. Cho đến nay công ty Formosa qua kỹ thuật lạc hậu của Trung Quốc chưa hề được cải thiện mà một trong những hậu quả cực kỳ tai hại song song với sự hủy hoại môi trường biển là tình trạng ngư dân Việt bị “quét sạch” khỏi những vùng biển liên hệ vì không còn cá họ không thể hành nghề và phải bỏ đi địa phương khác. Phải chăng đây là một bước chiến thuật quân sự thâm độc của Trung Cộng trong kế hoạch chiếm Việt Nam?
  • Song song với những kế hoạch thâm độc kể trên, chiếm đất, chiếm biển, biển người,… Trung Cộng, với sự hỗ trợ tích cực và miệt mài của các Thái Thú gốc Việt CSVN, song hành hủy hoại con người Việt Nam về nhiều phương diện biến người dân thành vô cảm về chính trị, mất gốc về văn hoá, bạc nhược về tinh thần và thể chất, suy đồi bại hoại về đạo đức, mất hẳn niềm tin và niềm tự hào dân tộc.

Và hôm nay, cụ thể hơn, Đảng và Nhà Nước CSVN đang chính thức và cụ thể giao từng phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng, được trá hình dưới hình thức “cho thuê các đặc khu với thời hạn 99 năm”.

Lãnh đạo CSVN viện dẫn rằng cần cho thuê dài hạn như vậy để các nhà tư bản an tâm bỏ tiền ra đầu tư và từ đó giúp phát triển các đặc khu. Trong thực tế, ba đặc khu mà CSVN cho thành lập chỉ nhằm tổ chức ăn chơi, đánh bạc không hề xây dựng khu công nghiệp để phát triển kinh tế. Điều này cho thấy là kế hoạch xây dựng đặc khu của CSVN chỉ là nhằm bán đất nước với giá rẻ mạt để có tiền nuôi sống chế độ trong tình hình cạn kiệt ngân sách ngày hôm nay.

Từ khi mạng xã hội và toàn cầu hoá bùng nổ, sự lớn mạnh của một công ty hay sự phát triển của một khu vực không còn kéo dài quá 20 hay 30 năm mà chỉ từ 3 đến 7 năm. Một đặc khu có tiềm năng phát triển và mang lại lợi ích lớn hay không cũng chỉ nên nhìn trong tầm từ 10 đến 20 năm là cùng và không thể xa hơn.

Thứ nhất, khung thời gian vừa đủ để thành phần lãnh đạo ngày nay nhìn thấy trách nhiệm chứ không phó mặc cho thế hệ con cháu đến 99 năm.

Thứ hai, không cho bất cứ tư bản của quốc gia nào sở hữu đất đai quá dài vì có nguy cơ biến thành xâm thực lên tình hình chính trị.

Với tầm nhìn nói trên trong bối cảnh của thế giới ngày nay, sự kiện lãnh đạo CSVN cho Trung Cộng thuê đất 99 năm chỉ là gian kế che giấu tiến trình bán nước, mà thực chất là mỗi ngày Đảng CSVN lại dâng thêm một “đặc khu” mới cho Trung Cộng cho đến khi quỳ cả 2 gối dâng trọn “đặc khu Việt Nam” cho Trung Cộng và… vĩnh viễn?

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”