Hương đức hạnh không ngừng bay xa

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cho tới hôm nay, “hạnh đầu đà” không còn là cụm từ xa lạ. Nhắc đến nó ta sẽ nghĩ ngay đến sư Minh Tuệ, mặc dù ông không phải là người thực hành hạnh này đầu tiên và duy nhất.

Điều gì làm nên một liên tưởng mặc định như vậy? Vì hạnh tu này quá khó, không mấy ai làm được, và trong cái thời buổi mạt pháp này nó là thứ gì đó xa lạ, lập dị, kỳ quái. Nên sự xuất hiện của sư Minh Tuệ đã khiến hạnh đầu đà như là pháp tu của riêng ông.

Nhìn lại lịch sử, ngay thời Đức Phật tại thế, pháp tu này có không ít người thực hành, nhưng không phải ngẫu nhiên mà đại đệ tử Ca Diếp được gọi là “đệ nhất đầu đà,” nghĩa là chỉ ông mới thực hành một cách nghiêm trì và đầy đủ nhất.

Lịch sử Phật giáo trải dài gần 2600 năm, tất nhiên đã từng có không ít cao tăng, thánh tăng chọn lựa con đường này và đạt được thành tựu viên mãn.

Nhắc lại để minh định rằng không nên nhầm lẫn giữa hạnh đầu đà mà sư Minh Tuệ đang hành trì là giống với cách tu của các nhà sư thuộc phái Khất Sĩ ở miền Nam trước 1975, hay những tu sĩ thuộc phái Nam Tông bây giờ. Giữa họ có một số điểm chung ở các pháp hành và giữ gìn giới hạnh. Nhưng ở sư Minh Tuệ, ông mới là người thực hành nghiêm mật và rốt ráo tất cả 13 hạnh đầu đà ấy.

Đó là lý do vì sao người ta kính trọng, ngưỡng vọng ông, đặc biệt ngay trong giới tăng ni hoặc những bậc cao tăng đức độ cũng phải tán thán.

Vì sao vậy? Vì họ rõ hơn ai hết, ở thời điểm hiện tại, ông là duy nhất. Cho nên, cần hiểu cho đúng, sức hút của ông, sự lan toả của ông là do chính giới hạnh mà ông đắc được, chứ không phải là nhờ truyền thông và mạng xã hội (tất nhiên họ cũng có phần trong đó).

Vẫn có một số người đánh đồng, việc tu như sư Minh Tuệ cũng đang có đầy ở các nước Phật giáo Nam truyền, như Thái Lan, Campuchia, Miến Điện… Xin thưa, điều này không đúng. Ở các nước ấy họ tu thì cũng không khác mấy những tu sĩ Nam Tông ở Việt Nam. Có điều họ đông hơn, mạnh hơn, vì Phật giáo nước ta theo Đại thừa là chủ yếu.

Tôi có tham khảo qua một số tu sĩ mà họ đã đi qua nhiều nước trên thế giới, họ kết luận rằng như sư Minh Tuệ là rất hiếm. Đặc biệt, khả năng bộ hành đầu trần chân đất đi trên đường nhựa với sức nóng – bỏng da cháy thịt, có lẽ sức chịu đựng đó là vô đối. Nên nhớ, so với thời Ca Diếp đi khất thực, khi ấy chắc chắn không có đường nhựa, chỉ là đường đất và cây cối xanh tươi, bóng mát rất nhiều. Rõ ràng sư Minh Tuệ đã rèn luyện được một thân kim cang để có thể hành cước liên tục, mà trên nét mặt vẫn luôn bình thản, an lạc.

Như vậy, thực hành được hạnh đầu đà là một sự phi thường. Cho nên không gì ngạc nhiên khi sư Minh Tuệ được đánh giá là “một tu sĩ kiệt xuất nhất” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam (1). Ngoài ra, cũng bởi hình ảnh của sư đã khiến bao người tỉnh thức, lột mặt bao kẻ dối gian, và nhiều người đã buông bỏ tất cả mà bước theo ông trên con đường cao thượng này.

Từ một hạnh đầu đà cứ thế đã có 72 hạnh đầu đà (2). Ta chưa bàn đến việc 71 hành giả kia có đủ căn cơ, ý chí để đi đến hết con đường hay không. Hoặc giả 71 vị ấy sẽ có bao nhiêu đầu đà đắc đạo. Việc đó không quan trọng, vì đâu phải cứ tu là đắc, cũng như thực tế ngày nay có bao nhiêu tu sĩ, bao nhiêu chùa chiền mà có thấy vị nào đắc quả được đâu! Cho nên, chỉ cần họ dám lựa chọn hạnh tu này đã là một sự dũng cảm hơn người.

Thế giới tìm một đầu đà đã hiếm trong khi đất nước ta lại có cả một đoàn tăng hạnh đầu đà. Vậy, điều này không đáng để Phật giáo Việt Nam tự hào với thế giới hay sao?

Có thể nói, hiện tượng này là hi hữu, khiến âm vang các nẻo, rúng động chư thiên, vì ngay cả khi Đức Phật còn tại thế cũng không có đầu đà đông như vậy! Trớ trêu thay! Họ không lấy đó làm tự hào mà ngược lại họ không vui, lo lắng, bất an.

Thế là đoàn đầu đà phải bị chấm dứt. Có lẽ, nếu không có bước đi này đoàn tăng ấy sẽ còn tăng thêm mỗi ngày và con số là không ai có thể biết trước. Khi ấy không biết thế giới nhìn vào chúng ta với con mắt như thế nào đây?

Khi họ bị chặn đứng, chia tách, giải tán, đó là thời khắc u ám, ảm đạm với tất cả những người mộ đạo và lương thiện. Nhưng lập tức, như một tia sáng lóe lên khi mà những con người ấy rải đi khắp nẻo tìm nhau, cũng là lúc hạnh đầu đà xuất hiện mang theo hạt giống bồ đề rải khắp nơi nơi, và một lần nữa hương đức hạnh được lan xa, bay cao.

Chỉ cần thấy một vị đầu đà người ta sẽ nhớ ngay về sư Minh Tuệ, và chỉ như thế người ta đủ biết người tu là như thế nào – người tu không cần ăn ngon mặc đẹp, người tu càng không được giữ tiền bạc. Khi đó các giá trị chân – ngụy, chánh – tà, thiện – ác, tự khắc lộ rõ. Và chúng Phật tử sẽ tự biết họ phải làm gì.

Chưa dừng lại ở đó, sức mạnh của hạnh đầu đà như đã ăn sâu vào tâm thức mỗi người, nên ngay cả khi không gặp một vị đầu đà trước mặt mà chỉ cần nhìn thấy vài miếng vải rách, vải nhiều màu thì cũng đủ khiến họ nhớ về một đầu đà Minh Tuệ. Đây cũng chính là giá trị tỉnh thức mà ông đã mang lại, một khi nó đã gieo vào đầu thì không một quyền lực nào có thể tẩy trắng đi được.

Vậy nên, cho dù ông có bước đi hay dừng lại, cho dù những huynh đệ kia có tìm thấy nhau hay tan rã; thì sự tỉnh thức vẫn không thể quay đầu, nó sẽ tiếp tục hành trình, nó phải hoàn thành sứ mệnh; và đến một lúc nào đó ta lại thấy hạnh đầu sẽ có ở muôn nơi, có lẽ cũng sớm thôi!

P/S: Hôm nay 5/6 sét ở bầu trời Hà Nội cả ngàn cơn. Hi hữu. Kẻ vô thần lại thường hay sợ hãi, người tín thần thì đã có đức tin. Xưa nay thiên nhân cảm ứng, người xưa dạy chớ có nghi ngờ.

Nha Trang, 05/06/2024
Nguyễn Thanh Huy

Chú thích:

(1) Tăng đoàn GHPGVNTN
(2) Ngay cả trong số đó nếu có vài vị giả tu.

Nguồn: FB Nguyen Thanh Huy

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…