ILO “hoan nghênh Việt Nam phê chuẩn công ước cơ bản về thương lượng tập thể”

Kết quả bỏ phiếu phê chuẩn Công Ước ILO 98.
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tổ chức Lao Động Quốc Tế (InternationalLabor Organization- ILO) đã chúc mừng Việt Nam về quyết định quan trọng trong việc phê chuẩn một trong những công ước cơ bản của tổ chức này để thúc đẩy thương lượng tập thể.

Vào ngày 14 tháng Sáu/6, tất cả 452 đại biểu Quốc Hội có mặt tại phiên họp đã bỏ phiếu đồng ý với hồ sơ của Chính phủ để phê chuẩn Công Ước ILO 98 về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể.

Công Ước 98 là một trong tám công ước cốt lõi của ILO theo Tuyên bố 1998 của ILO về Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc, bao gồm: quyền tự do lập hội và công nhận quyền thương lượng tập thể; loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; xóa bỏ lao động trẻ em; và loại bỏ sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Tất cả các quốc gia thành viên ILO nên tôn trọng và áp dụng các nguyên tắc theo Tuyên bố năm 1998.

Deborah Greenfield, Phó Tổng Giám đốc Chính sách của ILO phát biểu “Chúng tôi chúc mừng Việt Nam về việc phê chuẩn Công Ướcc 98. Đây không chỉ là quyền cơ bản mà còn là một quyền cho phép tạo điều kiện bảo vệ các quyền khác của người lao động.”

Được thông qua vào năm 1949, Công Ước 98 có ba phần chính để đảm bảo rằng thương lượng tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động có thể diễn ra một cách hiệu quả. Chúng bao gồm bảo vệ công nhân và cán bộ công đoàn chống lại hành vi phân biệt đối xử của người sử dụng lao động, bảo đảm cho các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động không bị can thiệp hoặc chi phối lẫn nhau, và yêu cầu các biện pháp thể chế và pháp lý do Nhà nước cung cấp để thúc đẩy thương lượng tập thể.

Một thay đổi đáng kể mà Việt Nam sẽ cần phải thực hiện để phù hợp với quy ước này là tránh xa tình trạng phổ biến hiện nay khi các công đoàn cơ sở bị chi phối bởi cơ quan quản lý. “Trong nhiều nhà máy, không khó để tìm một người quản lý cấp cao hoặc giám đốc nhân sự đóng vai trò là chủ tịch công đoàn,” Giám Đốc ILO Việt Nam Chang-Hee Lee nói. Đưa các hiệp hội công đoàn độc lập ra khỏi sự thống trị hoặc can thiệp của giới quản lý là chìa khóa để xây dựng các mối quan hệ công nghiệp hài hòa, ổn định và tiến bộ để phát triển bền vững.

Ông nói rằng công nhân, công đoàn và người sử dụng lao động Việt Nam đã chứng minh được ý chí và năng lực của họ đối với thương lượng tập thể thực sự, như thể hiện trong sự phát triển đột phá gần đây của thương lượng tập thể của nhiều chủ lao động trong ngành điện tử ở Hải Phòng, ngành du lịch ở Đà Nẵng và ngành nội thất ở Bình Dương.

Việc phê chuẩn Công Ước 98 sẽ thúc đẩy sự lan truyền của thương lượng tập thể đích thực cho các giải pháp cùng có lợi tại nơi làm việc của Việt Nam, có khả năng dẫn đến điều kiện làm việc tốt hơn, năng suất cao hơn và thịnh vượng chung, góp phần phát triển bền vững, ông nói thêm.

Tám công ước cốt lõi của ILO, bao gồm Công Ước 98, theo các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc, đã trở thành một phần trung tâm của thế hệ hiệp định thương mại tự do mới, bao gồm Hiệp Định Toàn Diện và Tiến Bộ về Quan Hệ Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp Định Thương Mại Tự Do EU – Việt Nam (EVFTA), cũng như hầu hết các chính sách có trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đa quốc gia.

Công Ước 98 là công ước cơ bản thứ sáu mà Việt Nam đã phê chuẩn. Các công ước khác là Công Uớc 29 về chống lao động cưỡng bức, Công Uớc 100 và 111 về không phân biệt đối xử và Công Uớc 138 và 182 về lao động trẻ em.

Bộ Trưởng Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Đào Ngọc Dung cho biết Việt Nam cũng sẽ chuẩn bị phê chuẩn hai công ước còn lại, Công Ước 105 về lao động cưỡng bức vào năm 2020 và Công Ước 87 về tự do lập hội vào năm 2023.

Vũ Quốc Ngữ dịch

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”