“Kỷ nguyên mới”: Các khó khăn để khai triển bộ tứ Nghị quyết 57, 59, 66, 68

KS Nguyễn Ngọc Bảo

Tô Lâm - Tổng Bí thư ĐCSVN phát biểu chỉ đạo về bộ tứ nghị quyết mà truyền thông trong nước gọi là "bộ tứ trụ cột' trong hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 66 và Nghị quyết 68 hôm 18/5/2025. Ảnh: Báo Thanh Niên

KS Nguyễn Ngọc Bảo

Dưới đây là phần phân tích các khó khăn mà đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) và hệ thống chính trị đang đối diện khi triển khai bộ tứ Nghị quyết (57, 59, 66, 68) của Bộ Chính trị (ban hành cuối 2024 – đầu 2025). Tập trung vào các lãnh vực: Giáo dục – đào tạo, tự do thông tin, tín dụng, khu vực kinh tế vô hình (tài sản vô hình), bảo vệ quyền lợi công nhân (công đoàn độc lập) và lương bổng.

Các khó khăn này xuất phát từ thực trạng nội tại, mâu thuẫn giữa mục tiêu đột phá và cơ chế hiện hành.

1. Nghị quyết 57-NQ/TW – Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo & chuyển đổi số

Đây là nghị quyết cốt lõi, nhưng gặp nhiều rào cản lớn nhất về nhân lực, hạ tầng và thể chế.

– Giáo dục – đào tạo: Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao còn yếu, khoảng cách lớn giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp (đặc biệt công nghệ cao như AI, bán dẫn, chuyển đổi số). Chương trình đào tạo chậm đổi mới, thiếu gắn kết nghiên cứu – đào tạo – thị trường. Nhiều trường đại học thiếu cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại và giảng viên có trình độ nghiên cứu sâu. Tâm lý “trọng bằng cấp” làm giảm sức hút của đào tạo nghề và trung cấp. Thiếu cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài (lương, môi trường sáng tạo hạn chế).

– Tự do thông tin: Môi trường sáng tạo bị hạn chế bởi tư duy “an toàn là trên hết,” “sợ trách nhiệm,” “không đi đầu, không đi cuối.” Cơ chế kiểm soát thông tin chặt chẽ làm giảm không khí trao đổi ý tưởng tự do, cản trở đổi mới sáng tạo.

– Các khó khăn chung: Thể chế, chính sách chưa đủ mạnh (cơ chế khoán sản phẩm khoa học chưa hấp dẫn), hạ tầng số và nghiên cứu còn yếu, đầu tư cho khoa học & công nghệ không tương xứng.

2. Nghị quyết 59-NQ/TW – Hội nhập quốc tế

Nghị quyết này hỗ trợ các nghị quyết khác, nhưng khó khăn nằm ở khả năng hội nhập sâu khi nội tại chưa sẵn sàng.

– Giáo dục – đào tạo: Hội nhập đòi hỏi nhân lực đạt chuẩn quốc tế, nhưng chất lượng đào tạo còn thấp, thiếu kỹ năng mềm và ngoại ngữ, khó tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

– Tự do thông tin: Áp lực hội nhập đòi hỏi minh bạch và tự do thông tin cao hơn, nhưng cơ chế quản lý thông tin hiện hành còn hạn chế, dễ gây xung đột với các tiêu chuẩn quốc tế (CPTPP, EVFTA…).

– Các lãnh vực khác: Hội nhập đòi hỏi cải cách thể chế mạnh (liên quan Nghị quyết 66), nhưng nếu chậm sẽ làm giảm hiệu quả thu hút FDI chất lượng cao.

3. Nghị quyết 66-NQ/TW – Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật

Đây là “nền tảng” cho các nghị quyết còn lại, nhưng cải cách thể chế gặp nhiều trở ngại.

– Tự do thông tin: Pháp luật chưa tạo môi trường minh bạch, vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà. Tư duy “không quản được thì cấm” vẫn còn, cản trở tự do sáng tạo và tiếp cận thông tin.

– Tín dụng & khu vực kinh tế vô hình: Pháp luật về tài sản vô hình (sở hữu trí tuệ, dữ liệu, thương hiệu) chưa hoàn thiện, bảo vệ yếu → doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng dựa trên tài sản vô hình.

– Bảo vệ quyền lợi công nhân: Thực thi pháp luật lao động còn yếu, công đoàn cơ sở chưa thực sự độc lập và đại diện mạnh mẽ cho người lao động.

– Các khó khăn chung: Thi hành pháp luật là khâu yếu nhất, cán bộ ngại trách nhiệm, phản ứng chính sách chậm, thiếu đồng bộ giữa xây dựng và thực thi luật.

4. Nghị quyết 68-NQ/TW – Phát triển kinh tế tư nhân

Nghị quyết nâng kinh tế tư nhân lên “động lực quan trọng nhất,” nhưng khu vực này vẫn gặp rất nhiều rào cản thực tế.

– Tín dụng: Doanh nghiệp tư nhân (đặc biệt nhỏ và vừa) tiếp cận vốn rất khó khăn do thiếu tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, rủi ro cao. Chính sách tín dụng xanh và hỗ trợ khởi nghiệp chưa hiệu quả. Ngân hàng vẫn ưu tiên cho doanh nghiệp tư nhân hoặc dự án lớn, vốn là nơi tạo sân chơi cho tham nhũng quy mô.

– Khu vực kinh tế vô hình (tài sản vô hình): Quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình chưa được bảo vệ đầy đủ, doanh nghiệp khó dùng chúng để vay vốn hoặc phát triển. Hệ thống định giá tài sản vô hình chưa hoàn thiện.

– Bảo vệ quyền lợi công nhân & công đoàn độc lập: Tổng Liên đoàn Lao Động VN vẫn mang tính hành chính, trực thuộc Mặt trận Tổ quốc, không đại diện và bênh vực quyền lợi của người lao động. Quyền lợi công nhân (quyền đình công, thương lượng tập thể) chưa được bảo vệ đầy đủ, dẫn đến xung đột lao động.

– Lương bổng: Mức lương tối thiểu và thu nhập lao động còn thấp so với năng suất và chi phí sống, đặc biệt ở khu vực tư nhân. Doanh nghiệp nhỏ khó trả lương cao để giữ chân nhân tài chất lượng cao.

– Các khó khăn chung: Quy mô doanh nghiệp tư nhân chủ yếu siêu nhỏ, nhỏ và vừa; năng lực công nghệ và quản trị yếu; chi phí kinh doanh cao; định kiến và rào cản tiếp cận đất đai, tài nguyên vẫn tồn tại.

Tóm tắt các khó khăn chung có tính chất hệ thống

Bốn nghị quyết 57, 59, 66, 68 có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng việc thực thi gặp mâu thuẫn hệ thống:

– Tư duy và văn hóa: Vẫn tồn tại sợ trách nhiệm, bảo thủ, thiếu “7 dám” (dám nghĩ, dám làm…)

– Nhân lực: Thiếu trầm trọng nhân lực chất lượng cao, đặc biệt cho công nghệ và đổi mới.

– Thể chế & thực thi: Pháp luật còn chồng chéo, thi hành yếu, thiếu minh bạch.

– Tài nguyên: Tiếp cận tín dụng, đất đai, công nghệ cho khu vực tư nhân còn hạn chế.

– Xung đột lợi ích: Giữa kiểm soát chính trị – an ninh thông tin với nhu cầu tự do sáng tạo và hội nhập.

Những khó khăn này đòi hỏi cải cách sâu xa, quyết liệt và đồng bộ, nếu không sẽ làm thất bại và làm chậm tiến độ thực hiện các nghị quyết, ảnh hưởng đến mục tiêu “kỷ nguyên mới” mà Tô Lâm TBT đảng CSVN đề ra.