Lịch sử báo chí Việt Nam có bề dày hơn 150 năm, chớ không phải 99 năm

Tờ "Gia Định Báo" ra mắt công chúng Sài Gòn ngày 15/4/1865 là tờ báo đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lịch sử báo chí Việt Nam có bề dày hơn 150 năm, chớ không phải 99 năm đâu.

Tờ “Gia Định Báo” ra mắt công chúng Sài Gòn ngày 15/4/1865 là tờ báo đầu tiên của Việt Nam. Tờ Gia Định Báo ra hàng tuần, và tồn tại đến 44 năm, đình bản vào ngày 1/1/1910. Gia Định Báo dùng chữ Quốc Ngữ và do đại học giả Trương Vĩnh Ký làm tổng biên tập. Như vậy, cũng có thể nói rằng ông Trương Vĩnh Ký là ký giả đầu tiên của Việt Nam.

Tuần báo "Nữ Giới Chung" (tiếng chuông của nữ giới) được ra mắt công chúng Sài Gòn năm 1918, là tờ báo phụ nữ đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn
Tuần báo “Nữ Giới Chung” (tiếng chuông của nữ giới) được ra mắt công chúng Sài Gòn năm 1918, là tờ báo phụ nữ đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn

Nam kỳ còn là nơi cho ra đời tờ báo phụ nữ đầu tiên của Việt Nam. Đó là tờ tuần báo “Nữ Giới Chung” (tiếng chuông của nữ giới) được ra mắt công chúng Sài Gòn năm 1918. Nữ Giới Chung do một nhân vật rất lừng danh thời đó là Sương Nguyệt Anh (chứ không phải “Sương Nguyệt Ánh” như nhiều người lầm) làm chủ bút. Sương Nguyệt Anh là con gái của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu.

Còn tờ Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc làm biên tập thì ra đời ngày 21/6/1925, tức sau tờ Gia Định Báo khá lâu. Cái khổ là ngày nay, người ta không nhớ tới những người tiền phong trong báo chí như Trương Vĩnh Ký và Sương Nguyệt Anh. Thiết nghĩ nên nhắc lại chuyện sử để không quên các vị tiền bối.

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nguồn: FB Nguyễn Văn Tuấn

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”