Liệu đã đến lúc Đảng Cộng sản phải thay tên?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2012-09-27

Những tuần lễ vừa qua nhiều biến động chính trị khiến đảng Cộng sản Việt Nam hơn lúc nào hết thấy cần phải tự chỉnh sửa mình để sống còn. Tuy nhiên rất nhiều đảng viên không tin vào nỗ lực này và nghi ngờ kịch bản mua thời gian để thỏa hiệp với nhau hơn là thực sự muốn thay đổi.

Từ ngày thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần gặp sóng gió nhưng hầu như đều vượt qua được vì những điều kiện lịch sử và quan trọng hơn hết là đảng viên được trang bị một loại vũ khí vô hình nhưng không sức mạnh nào đương cự lại đựơc: đó là lòng yêu nước chân thành và niềm tin tất thắng giặc ngoại xâm. Niềm tin ấy đã thể hiện qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ cũng như trong cuộc chiến ngằn ngày nhưng khốc liệt với kẻ thù phương Bắc.

Quyền lực và của cải

JPEG - 15.7 kb
Biểu ngữ to lớn trên đường phố của đảng. (RFA file)

Đảng viên Đảng Cộng sản sau những ngày lê thê trong ba cuộc chiến đẫm máu ấy người sống sót trở về lãnh nhận những vị trí khiêm nhường tại địa phương, cũng có người do có chuyên môn được phân bổ vào các chức vụ quan trọng, số còn lại trở về với gia đình sống đời đạm bạc và hầu hết rất chật vật với hoàn cảnh khó khăn của thời hậu chiến.

Số đảng viên được cấp nhà cấp đất tuy không nhỏ nhưng trường hợp đất đai của họ bị trưng thu như dân thường cũng không hiếm. Trong vụ Văn Giang, số đảng viên thương binh kéo nhau đi biều tình chống trưng thu đất trái phép bị công an đàn áp, đánh đập đã làm hình ảnh đảng viên Đảng Cộng sản biến thể trầm trọng trong dư luận xã hội. Những hình ảnh phản cảm ấy dấy động mạnh mẽ trong cộng đồng đảng viên thổi bùng lên câu hỏi liệu đảng cộng sản có tốt đẹp như họ từng nghĩ hay không?

Xung đột trong đảng bắt đầu từ những ngày sau cuộc chiến tranh năm 1975, khi tài sản cả miền Nam được tận thu và xử lý tùy vào chức vụ của cán bộ quản lý. Ban đầu sự chia chác chưa xuất hiện công khai nhưng chỉ sau vài tháng, ánh mắt dửng dưng với của cải bởi lý tưởng cộng sản đã hoàn toàn bị khuất phục và bắt đầu các cuộc xẻ thịt rộng lớn, từ công xưởng, nhà máy, đất đai cho tới chức vụ trong chính phủ đều có cái giá của nó.

JPEG - 23.4 kb
Việt Nam hiện có hơn 700 tờ báo nhưng tất cả đều nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Báo chí, dưới một hình thức nào đó, là công cụ tuyên tuyền của đảng CSVN. AFP

Cuộc đổi mới kinh tế trong thập niên 80 thực chất quyền lực được chia đều cho các phe nhóm trong đảng để nắm giữ những vị trí quan trọng của chính phủ và từ đó đồng tiền mọi ngóc ngách tràn về đẩy sự giàu có của nhiều đảng viên tăng cao. Từ giàu có bất thường, họ trở thành ngông nghênh, biến thái và bất thường trong văn hóa sống khiến hình ảnh của người đảng viên càng cao cấp bao nhiêu thì đồng đội của họ càng nghi ngờ tính trung thực và trong sáng của họ bấy nhiêu. Chút uy tín được lập đi lập lại trong các cuộc họp chi bộ không còn mấy ai tin và từ sự mất lòng tin này không ít người đã ra khỏi đảng.

Dấu hiệu rạn nứt của đảng cộng sản

Có người âm thầm bỏ sinh hoạt đảng, nhưng cũng có người bỏ đảng với giấy thông báo đàng hoàng. Thậm chí họ thông báo cho cả nước biết sự ra đi của họ thông qua các trang mạng nổi tiếng. Anh Nguyễn Chí Đức, anh Nguyễn Hoài Nam là những người như thế. Anh Đức, người nổi tiếng vì bị công an đạp vào mặt cho biết nguyên nhân ra khỏi đảng:

– Tôi khẳng định phần lớn những người cộng sản là yêu nước. Họ theo cộng sản là để đánh đuổi thực dân Pháp và kỳ vọng xây dựng đất nước tốt đẹp hơn chứ họ cũng không có điều kiện tìm hiểu chủ nghĩa Max. Người Việt do bức xúc với thực dân Pháp đô hộ suốt mấy chục năm bị đè nén nên lúc ấy người theo đảng này người theo đảng khác và cuối cùng thì đảng Cộng sản thành công.

Nhưng dần dần người đảng viên thấy rằng cái chủ thuyết nó giống như một cái khuôn đúc vì nó cố định mà dòng chảy nó luôn biến động thì làm sao họ ép vào khuôn được? Từ đó tôi nhận thức là những suy nghĩ của mình nó không còn phù hợp với những cái cương lĩnh và điều lệ của đảng nữa.

JPEG - 19.3 kb
Các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng (từ trái qua phải từ trên xuống). Ảnh AFP.

Lý do thứ hai khiến những đảng viên nhiệt huyết như Nguyễn Chí Đức từ bỏ đảng là họ không thực hiện được hoài bão của mình, anh nói:

– Đúng là dân tộc mình cũng vẻ vang với mấy ngàn năm văn hiến nhưng tại sao lại hèn kém như vậy mình cũng cảm thấy chạnh lòng. Khi tôi quan sát dáng đi của người Việt Nam nhất là ngưới từ quê lên thành phố thì bao giờ cái dáng đi cũng có gì đó rụt rè. Trong khi đó thanh niên các nước như Hàn quốc, Nhật hay phương Tây thì nó rất nhanh và phong thái rất tự tin. Trong khi đó người Việt ngay trên đất nước của mình thì rất yếu ớt về mặt tinh thần.

Người như tôi luôn có tư tưởng cổ động cho thanh niên từ lúc còn hoạt động đoàn trong trường đại học. Mình muốn cổ động thanh niên nó mạnh mẽ hơn, dõng dạc tự tin và phát biểu thoải mái đó là suy nghĩ của tôi. Tuy nhiên tôi thấy Cộng sản không đáp ứng được cho mình làm những chuyện ấy vì vậy thì mình thấy rằng phải ra khỏi đảng vì nếu mình còn ở trong tổ chức đảng cộng sản thì mình không làm đựơc việc mà mình mong muốn tại vỉ tổ chức đảng cộng sản nó có những ràng buộc về luật lệ và mình cảm giác là không hợp nên xin ra thôi.

Ông Đỗ Xuân Thọ, cán bộ Viện Khoa Học Công Nghệ GTVT một đảng viên không còn trẻ để có hoài bão, ước mơ như ngày xưa ông đã từng có. Thế nhưng trước động thái mà đảng đang kêu gọi chỉnh đốn đối với ông chỉ là những công việc bề ngoài mị dân:

– Tôi đã về hưu sớm hai năm và tôi cũng bỏ đảng luôn. Tôi có thề khẳng định là tất cả mọi cái chắp vá, cải tiến, sửa đổi chính đốn đảng lần này đều là vô vọng. Không thể nào sửa chữa đựơc một cái hệ thống khi nó đã sai từ các nguyên lý, các tiền đề cơ bản.

Tất cả những đảng viên còn đi làm nhà nước thì họ thu người tuyệt đối lại, không phát biểu, phần lớn giữ thái độ trung lập. Thế còn những đảng viên đã về hưu rồi thì họ bàn tán vô cùng sôi nổi về cuộc đấu đá nội bộ này và họ chỉ mong xảy ra một cuộc như ở nước Nga mà ông Yeltsin đứng lên lãnh đạo đập tan cái chủ nghĩa xã hội này và mong muốn Nguyễn Tấn Dũng từ chức….

Hiện trạng tâm lý của đảng viên được ông Thọ miêu tả là hết sức tiêu cực, ngay cả những đảng viên giàu có và đầy thế lực cũng đang đánh nước cờ đào tẩu, ông Thọ cho biết:

– Nếu đảng viên có chức có quyền thì đang lo nơm nớp gửi tiền ra nước ngoài cho con đi du học dù nó ngu đến mức nào đi chăng nữa họ cũng cố gắng tống con ra nước ngoài với bất cứ giá nào vì họ biết tình hình trong nước là cực kỳ bất ổn. Cuộc chỉnh đốn đảng lần này chính là một cuộc thanh trừng nội bộ, tôi không nói là Nguyễn Phú Trọng nghĩ ra điều đó mà các tham mưu của ông Trọng, ông Dũng ông Sang nghĩ ra việc này.

Đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện năm 1930 khi tình hình chống Pháp đã chín muồi, hùng khí thanh niên sôi sục và lý tưởng giải phóng dân tộc cao vòi vọi. Trong khi hiện nay sau 68 năm, đảng không đưa ra được một lý tưởng cụ thể nào để thuyết phục đảng viên như những ngày đầu thành lập đảng. Một đảng chính trị thiếu mục tiêu tranh đấu, thiếu cương lĩnh chủ đạo để đảng viên tuân phục và nhất là ngọn cờ lý tưởng đã đựơc kéo xuống thì tương lai của nó ra sao?

Liệu khi những khiếm khuyết của chính nó không còn cách chữa trị nữa thì có nên thay thế bằng một đảng khác, không cầm quyền nhưng có chức năng giám sát chính quyền hay không? Lúc ấy không cần phải kêu gọi, lý tưởng vào đảng sẽ đựơc thanh niên thúc đẩy nhau gia nhập như thế hệ cha anh của họ 68 năm trước đã làm.

Một chính đảng với tư cách giám sát sẽ làm cho Việt Nam mạnh hơn, mặc dù phải hy sinh quyền lợi một số nhóm cầm quyền. Xu thế này đã và đang xảy ra trên khắp thế giới, liệu Việt Nam có tránh được hay không?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”