Liệu THACO có tiếp tục với dự án Đường sắt cao tốc Bắc – Nam?

Ảnh minh họa: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

TS Ngô Quý Nhâm

Dự án ĐSCT Bắc – Nam là một đại dự án hạ tầng có quy mô và độ phức tạp rất cao, không chỉ đối với Việt Nam mà với bất kỳ nhà đầu tư tư nhân nào trên thế giới. Để triển khai thành công, dự án này đòi hỏi đồng thời ba nhóm năng lực then chốt: (i) quản lý dự án hạ tầng phức hợp, quy mô quốc gia trong thời gian dài; (ii) cấu trúc và dàn xếp tài chính với tổng mức đầu tư rất lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài; (iii) tiếp cận và làm chủ công nghệ vận hành.

Về mặt công nghệ, chủ đầu tư hoàn toàn có thể mua hoặc hợp tác chuyển giao từ nước ngoài nếu bài toán tài chính được giải quyết.

Tuy nhiên, chính bài toán tài chính mới là rào cản lớn nhất. Thực tiễn quốc tế cho thấy, ngay cả tại Trung Quốc – quốc gia có mật độ dân cư cao và nhu cầu đi lại lớn – phần lớn các tuyến ĐSCT khai thác ở tốc độ 350 km/h không đạt lợi nhuận thương mại độc lập ở cấp tuyến, ngoại trừ một số tuyến duyên hải đặc biệt đông khách. Nguyên nhân là chi phí đầu tư, chi phí vận hành ĐSCT 350 km/h thường gấp 1,5 đến gần 2 lần so với ĐSCT 250 km/h.

Điều này cho thấy ĐSCT Bắc – Nam loại 350 km/h nhìn chung là loại hình hạ tầng có ý nghĩa kinh tế – xã hội lớn nhưng khả năng tự thân tạo lợi nhuận tài chính hạn chế.

Trong bối cảnh đó, một dự án ĐSCT nếu không có sự tham gia đáng kể của Nhà nước thông qua vốn đầu tư, bảo lãnh, trợ cấp vận hành hoặc chia sẻ rủi ro, sẽ rất khó đạt được tính “bankable” để huy động vốn dài hạn từ ngân hàng và thị trường tài chính. Các mô hình tư nhân tham gia chỉ có thể khả thi nếu được thiết kế như một dự án PPP thực chất, hoặc gắn với các cơ chế bổ trợ như TOD, chứ không thể thuần túy dựa vào dòng tiền vận tải.

Trường hợp Đài Loan cho thấy rủi ro tài chính của mô hình tư nhân hóa ĐSCT khi dự báo nhu cầu và cấu trúc vốn không phù hợp, dù đây không phải là một tiền lệ có thể áp dụng máy móc cho Việt Nam. Tuy nhiên, nó là lời cảnh báo rằng nếu thiết kế thể chế và tài chính không phù hợp, dự án có thể buộc phải tái cấu trúc và Nhà nước vẫn là bên gánh rủi ro cuối cùng.

Từ các điều kiện trên, có thể thấy việc các doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup cân nhắc rút lui hoặc không theo đuổi vai trò chủ đầu tư toàn tuyến là lựa chọn mang tính thận trọng, phản ánh giới hạn khách quan của mô hình tài chính, hơn là vấn đề thiện chí hay quyết tâm.

Tôi dự đoán, THACO sớm muộn cũng rút nếu không muốn rơi vào khủng hoảng vì không thể giải được bài toán về vốn nếu không có Chính phủ cho vay.

Đấy là chưa bàn đến việc THACO năng lực và kinh nghiệm trong quản lý các dự án phức hợp triển khai trên diện rộng và kéo dài của THACO rất hạn chế.

Liệu với năng lực và kinh nghiệm quản lý dự án như thế, lại phải tự dàn xếp tài chính lên đến 60-70 tỷ USD, thì THACO có thể triển khai dự án trong vòng 7 năm và khai thác vận hành hiệu quả được không?

Thôi thì bà con cứ bình tĩnh chờ xem!

Nguồn: FB Ngô Quý Nhâm

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Tô Lâm tham dự và phát biểu tại phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 hôm 4/7/2026. Ảnh: VGP

Cần bao nhiêu Chỉ thị 07 mới dẹp được “kiêu binh”?

Khi việc bảo vệ một biểu tượng được đồng nhất với việc triệt tiêu mọi cách diễn giải khác, khi phản biện dễ bị quy thành chống đối, còn lòng trung thành được đo bằng mức độ quyết liệt trong việc lên án người khác, thì “kiêu binh” sẽ còn tự tái sinh dưới những hình thức mới.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Bộ máy tuyên truyền CSVN đã thất bại ra sao trong vụ xử lý “Chuyện với Thanh”?

Khi một hệ thống dùng quyền lực để thay thế đối thoại, dùng khẩu hiệu để thay thế sự minh bạch, dùng văn kiện để thay thế trách nhiệm, thì đó không phải là biểu hiện của sức mạnh mà là dấu hiệu của sự lúng túng. Câu chuyện lớn hơn sau vụ việc này không phải là một cuốn sách mà là câu hỏi về khả năng thích ứng của một hệ thống chính trị trước một xã hội đang thay đổi.