Một hiệp ước tự hại mình

Hôm 13 tháng Tám, 2019 chính quyền Việt Nam trao trả cho phía Trung Quốc 3 tên tội phạm người Trung Quốc giết tài xế taxi người Việt Nam rồi ném xác xuống sông phi tang. Ảnh: FB Nguyen Ngoc Chu
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nếu quả thật, giữa Việt Nam và Trung Quốc có một hiệp ước dẫn độ, rằng công dân Trung Quốc sang Việt Nam phạm tội thì Việt Nam không xét xử mà trao trả cho Trung Quốc xét xử, và ngược lại, – thì đó là một hiệp ước mang tính tự hại cho phía Việt Nam.

Nguyên tắc bất biến: Phạm tội ở nước nào xét xử theo luật pháp nước đó

1. Không phải bây giờ, mà từ ngàn xưa, phạm tội ở nước nào thì phải xử theo luật pháp nước đó. Lấy một thí dụ ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.

Thời Xuân Thu (771-476 TCN) có người nước Tề sang nước Sở phạm tội. Nhân Tể Tướng nước Tề là Án Anh (578-501 TCN) đi sứ nước Sở, vua Sở muốn làm nhục Án Anh nên mang tội phạm người Tề ra xử.

Sở vương hỏi: “Ngươi là người nước nào?” Tội phạm trả lời: “Người nước Tề’. “Phạm tội gì”? “Tội trộm ngựa”. Rồi Sở vương quay sang Án Anh: “Sao người nước Tề hay trộm cắp vậy?” Án Anh liền đáp:

“Cây quýt trồng ở phương bắc thường cho quả ngọt, trái sai, nhưng khi đem trồng ở phương Nam thì quả đã chua, lại còn ít nữa. Tại sao vậy? Đó là vì thủy thổ. Người nước Tề giữ đạo luân thường, xưa nay vốn không trộm cắp, nhưng khi sang làm dân nước Sở lại sinh trộm cắp. Tại sao thế? Âu cũng là do thủy thổ vậy”.

2. Không phải ở phương Đông mà khắp thế giới, phạm tội ở nước nào thì xét xử theo luật pháp nước đó.

Thử hỏi các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức… có nước nào không thực thi điều luật này?

Tác hại của hiệp ước

Nếu người Trung Quốc sang Việt Nam phạm tội mà Việt Nam không xét xử phải trao lại cho Trung Quốc xét xử thì vô cùng nguy hại cho Việt Nam.

1. Một là, điều khoản này sẽ thúc đẩy người Trung Quốc tràn sang Việt Nam phạm tội. Vì khả năng kiểm soát của Việt Nam đã kém, lại còn có vỏ bọc ngoại quốc, nên bọn chúng dễ hành tẩu hơn.

2. Hai là, tội phạm Trung Quốc sẽ tìm cách trốn sang Việt Nam, vì dễ lẩn tránh.

3. Ba là, Chính quyền Trung Quốc xử nhẹ, thậm chí tha bổng cho tội phạm sau khi Việt Nam trao trả. Vì tội phạm xẩy ra ở Việt Nam, tác hại cho người Việt Nam và xã hội Việt Nam, chứ không tác hại cho người Trung Quốc và xã hội Trung Quốc.

4. Việt Nam phải tổn hao nhân lực, công sức, tiền bạc để chống tội phạm từ Trung Quốc.

5. Luật pháp của Việt Nam không có hiệu lực với người Trung Quốc trên đất Việt Nam nên không làm cho tội phạm người Trung Quốc khiếp sợ.

6. Trung Quốc cố tình cho người sang phạm tội ở Việt Nam. Điều này là chắc chắn. Điều này là vô cùng nguy hiểm cho Việt Nam.

Không phải lúc nào cũng “có đi có lại”

1. Có người biện hộ rằng Trung Quốc cũng đã trao trả nhiều công dân Việt Nam sang phạm tội ở Trung Quốc cho Việt Nam, là “có đi có lại”.

2. Người Trung Quốc sang phạm tội ở Việt Nam cả ngàn lần nhiều hơn và bội phần nguy hiểm hơn người Việt Nam sang phạm tội ở Trung Quốc.

3. Nguy hiểm hơn nữa là Trung Quốc chủ trương cho người sang phạm tội ở Việt Nam – trá hình dưới danh nghĩa tự phát.

4. Nguyên tắc “ Có đi có lại” không thể áp dụng trong trường hợp này với Trung Quốc.

Suy ra

Nếu quả thật có một hiệp ước đặt người Trung Quốc ngoài vòng pháp luật Việt Nam trên đất Việt Nam thì đây là một tai họa cho an ninh Việt Nam.

Nếu quả thật có một hiệp ước như vậy thì phải xóa bỏ. Càng sớm càng tốt. Lịch sử sẽ không bao giờ tha thứ cho một sai lầm sơ đẳng nhưng rất nguy hại, đi ngược với thông luật quốc tế như thế.

TS Nguyễn Ngọc Chu

Nguồn: FB Nguyen Ngoc Chu

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”