Năm rủi ro chính trị tại Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 7 tháng 10 năm 2009, hãng thông tấn Reuters đã phổ biến một tài liệu nghiên cứu về tình trạng rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam của Andrew Marshall và John Ruwitch. Trong tài liệu này hai ông đã đưa ra năm lý do dẫn đến những bất ổn tại Việt Nam gồm: Tham nhũng; Tính hiệu quả của chính quyền; Chính sách tỉ giá hối đoái; Bất ổn định xã hội và Môi trường.

Tham nhũng là một đặc tính ở Việt Nam và đang là rào cản rất lớn đối với các chủ đầu tư nước ngoài. Hà Nội tuyên bố một cách cứng rắn là sẽ tận diệt tham nhũng và khuyến khích báo chí đóng vai trò giám sát; nhưng trong thực tế, Hà Nội đã không những không dám ra tay triệt hạ những đường dây tham nhũng lớn ở các Bộ mà còn bắt giữ và kết án nhiều nhà báo đã có công trong việc phơi bày những vụ án tham nhũng trước công luận. Giống như Trung Quốc và nhiều quốc gia cựu Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô, tham nhũng đã trở thành một quán tính tự nhiên trong sinh hoạt của các đảng Cộng sản. Nó chính là ngõ ngách để cán bộ thăng quan tiến chức với giá cả đã được định trước.

Tính hiệu quả của chính quyền là sự vận hành minh bạch và hợp lý hóa các thủ tục pháp lý trong bộ máy hành chánh. Trong thực tế, với nạn tham nhũng, thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, đồng thời chú trọng quá nhiều vào nhu cầu bảo vệ an ninh cho chế độ, sự vận hành bộ máy hành chánh ở Việt Nam đã bị các nhà đầu tư đánh giá là tồi tệ và không hiệu quả.

Chính sách tỉ giá hối đoái của Việt Nam thường xuyên gây áp lực lên nền kinh tế. Các nhà đầu tư kỳ vọng Hà Nội nới rộng hành lang thương mại cho đồng Việt Nam, hoặc từ từ phá giá nó một lần nữa; nhưng việc này đã không được thực hiện khiến cho những rủi ro về khủng hoảng tài chánh ở Việt Nam có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Bất ổn định xã hội đang là nguy cơ lớn bùng vỡ tại Việt Nam khi số lượng đình công của công nhân ngày càng gia tăng, và những vụ xung công đất đai hoặc chiếm đoạt của dân bởi các quan chức tham nhũng địa phương ngày càng nhiều. Những vụ tranh chấp đất đai của nông dân đã không hề được Hà Nội giải quyết một cách nghiêm chỉnh, tạo ra những bất ổn lớn tại khu vực nông thôn. Trong khi đó, vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc cũng là một ngòi nổ đến từ sự bất mãn của quần chúng trước thái độ quá hèn yếu của Hà Nội đối với Bắc Kinh.

Môi trường cũng đang là nguồn gốc của bất ổn xã hội ngày càng tăng, giống như Trung Quốc. Với bờ biển dài, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi mực nước biển dâng lên, đặc biệt là vựa lúa đồng bằng sông Mê Kông.

Những phân tích rủi ro của hai ông Andrew Marshall và John Ruwitch dựa nhiều vào nhu cầu đầu tư nên sự đánh giá mang tính chất khuyến cáo cần quan tâm theo dõi, hơn là vạch ra những nguy cơ sinh tử mà Hà Nội đang phải đối diện. Nói cách khác, năm rủi ro chính trị nói trên là những hiện tượng xảy ra khá phổ thông tại những quốc gia độc tài mà một người không cần có chuyên môn cũng có thể nhìn thấy. Đây là những rủi ro do chính chế độ độc tài cộng sản sản sinh ra trong quá trình áp dụng những biện pháp cải cách nửa vời chứ không phải là những rủi ro hay khó khăn đến từ các sức ép chính trị của phong trào dân chủ. Đây là điều thiếu sót rất lớn trong phần lượng định của hai ông Andrew Marshall và John Ruwitch.

CSVN đã cho là họ đang đối diện những nguy cơ dựa trên 3 lãnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị

Chính vì nhìn trên nhãn quan đầu tư, bản lượng duyệt và phân tích về năm rủi ro chính trị tại Việt Nam của hai ông Marshall và Ruwitch không phản ảnh mối lo sinh tử của chế độ Hà Nội hiện nay.

Trong bản báo cáo đánh giá những yếu kém và nguy cơ đe dọa chế độ, phổ biến trong Hội nghị Trung ương đảng giữa nhiệm kỳ vào đầu tháng 1 năm 2009, Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã cho là họ đang đối diện những nguy cơ dựa trên 3 lãnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị như sau:

Về lãnh vực kinh tế: Đầu tư không có hiệu quả khiến cho chất lượng, năng xuất và khả năng cạnh tranh rất là yếu kém. Nông nghiệp giảm xuống còn 20% GDP nhưng lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm tới 60% cho thấy là vấn đề thay đổi cơ cấu kinh tế và chuyển dịch lao động bất cân xứng. Lý do dễ hiểu là Hà Nội không có khả năng cải tổ nền kinh tế sang hướng thị trường mà chỉ làm chấp vá. Tình hình này kéo dài thì những bất cân xứng của nền kinh tế sẽ bùng vỡ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế như đã từng thấy ở Đông Âu (1985), Đông Nam Á (1997).

Về lãnh vực xã hội: Quá chậm chạp trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội. Quản lý tài nguyên, môi trường lỏng lẻo; tình trạng khai thác tài nguyên và cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến, một số trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

Về lãnh vực chính trị: Nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia còn quá hạn chế. Vấn đề tập trung chỉ đạo, điều hành còn phân tán, thiếu dứt điểm và trong quá trình điều hành, cái yếu là kỷ cương phép nước không nghiêm. Hiện tượng “trên bảo dưới không nghe”, “trên nói một đàng dưới làm một nẻo” còn khá phổ biến, hạn chế hiệu quả trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, các quan điểm và đường lối.

Những diễn biến tiêu cực của ba lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị ở trên đã dẫn đến một vấn đề mà lãnh đạo Hà Nội cho là đã không lường hết được mức độ nguy hại lẫn rủi ro chính trị cho đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Đó là vấn đề “tự diễn biến nội bộ”. Tức là nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam đang bị các thế lực chống đối kích động nhằm tạo sự chuyển hóa từ bên trong để thúc đẩy quá trình tự đào thải ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản.

Kinh nghiệm từ những cuộc vận động dân chủ ở Đông Âu cách đây 20 năm, chúng ta thấy là khi nội bộ gồm những đảng viên, cán bộ cộng sản bắt đầu chuyển hóa từ bên trong, sẽ tạo ra một làn sóng bỏ đảng có thể bùng vỡ bất cứ lúc nào. Đây mới đích thực là nguy cơ chính trị mà đảng Cộng sản Việt Nam đang phải đối phó trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng toàn quốc kỳ XI vào tháng 1 năm 2011.

Trung Điền
19/11/2009

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”