Trần Đông A
Nếu một mặt nghị quyết kêu gọi “xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ,” nhưng mặt khác vẫn phân chia cộng đồng bằng những chuẩn mực chính trị do Nhà nước xác lập; nếu một mặt nói “lắng nghe ý kiến khác biệt,” nhưng chỉ những khác biệt được chính quyền đánh giá là phù hợp mới được chấp nhận, thì đường ranh cũ chưa chắc đã mất đi. Nó có thể chỉ được vẽ lại bằng một cây bút khác.
Trong những ngày ở New York, ông Tô Lâm một lần nữa kêu gọi người Việt Nam ở nước ngoài “khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc.” Đó là một thông điệp khó phản đối về nguyên tắc. Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, không dân tộc nào muốn tiếp tục truyền những chia rẽ của cha ông từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng chính vì lời kêu gọi ấy đã được lặp lại suốt nhiều thập niên, một câu hỏi khác ngày càng khó né tránh: Vì sao sau hơn năm mươi năm, Nhà nước Việt Nam vẫn phải tiếp tục kêu gọi người Việt hòa giải với chính Nhà nước của mình?
Câu hỏi ấy càng đáng suy nghĩ nếu đặt New York bên cạnh những chặng công du vừa qua của người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngoại trừ nước Nga của Vladimir Putin, tại những nền dân chủ mà ông Tô Lâm đi qua, sự hiện diện của ông đồng thời làm hiện ra một thực tế mà những diễn văn về “khúc ruột ngàn dặm” thường ít nói tới: Vẫn tồn tại một bộ phận có tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại công khai phản đối chính quyền Hà Nội.
Ở New York có lời kêu gọi biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc; ở Paris, trước khi ông Tô Lâm tới Điện Élysée, 13 tổ chức nhân quyền đã cùng gửi thư cho Tổng thống Emmanuel Macron, yêu cầu đặt nhân quyền và các quyền tự do căn bản vào chương trình nghị sự với lãnh đạo Việt Nam.
Không nên từ những cuộc phản đối ấy suy rộng ra thái độ của hơn sáu triệu người Việt sống ở nước ngoài. Điều đáng suy nghĩ nằm ở sức sống dai dẳng của một đường ranh chính trị. Chiến tranh đã kết thúc năm 1975; những người trực tiếp trải qua cuộc chiến đang ngày một ít đi; thế hệ thứ hai, thứ ba tại Mỹ, Pháp, Canada, Australia đã trở thành công dân của những xã hội khác. Thế nhưng mỗi khi một lãnh đạo cao nhất của Việt Nam xuất hiện tại những trung tâm lớn của cộng đồng hải ngoại, đường ranh tưởng đã thuộc về lịch sử ấy lại trỗi dậy.
Có thể giải thích rằng một bộ phận người Việt ly hương chưa chịu “khép lại quá khứ.” Nhưng sau hơn năm mươi năm, cách giải thích ấy không còn đủ. Nếu một chính sách hòa giải được thực hiện qua nhiều thế hệ mà hòa giải vẫn là lời kêu gọi, câu hỏi nghiêm túc không thể chỉ là “tại sao chưa có sự thay đổi?” Nó còn phải là: Chính sách ấy đã làm gì, và chưa làm gì, để lòng tin có thể hình thành?
Đúng lúc ấy, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, hơn hai mươi năm sau Nghị quyết 36. Văn bản có một bộ từ vựng hiện đại: “Nguồn lực chiến lược,” “sức mạnh mềm,” “hệ sinh thái kết nối,” “đại sứ văn hóa,” “vai trò chủ thể.” Nhưng đọc kỹ nghị quyết, người ta vẫn phải hỏi: Tư duy căn bản về người Việt ở nước ngoài đã thực sự thay đổi, hay chiếc bình được thay mà thứ rượu bên trong còn cũ hơn?
Từ “khúc ruột ngàn dặm” đến “nguồn lực chiến lược”
Nghị quyết 23 có những câu chữ đáng ghi nhận. Văn bản tiếp tục xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “bộ phận không tách rời” của cộng đồng dân tộc; nói đến hòa hợp, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ; thậm chí yêu cầu “trân trọng, cầu thị, lắng nghe” những ý kiến khác biệt. Nếu những nguyên tắc ấy thực sự được chuyển hóa thành thể chế và cách hành xử, đó hiển nhiên là điều đáng hoan nghênh.
Nhưng song song với ngôn ngữ hòa hợp ấy là một lớp tư duy khác. Cộng đồng ở nước ngoài được xác định ngày càng rõ như một “nguồn lực chiến lược quan trọng,” một “cầu nối giữa Việt Nam với thế giới,” cần được huy động sâu hơn vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Điều đó tự thân không bất thường. Hầu hết quốc gia có cộng đồng kiều dân đông đảo (diaspora) đều mong thu hút vốn, tri thức, công nghệ, mạng lưới kinh doanh và ảnh hưởng văn hóa của cộng đồng gốc mình.
Nghị quyết 23, tuy nhiên, không dừng ở tiền, chất xám hay công nghệ. Nó còn yêu cầu “phát huy vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin, tuyên truyền,” đồng thời ghi nhận việc có người Việt giữ vị trí trong hệ thống chính trị nước sở tại và đặt công tác kiều bào trong tổng thể đường lối đối ngoại của đảng.
“Chủ thể” của công tác thông tin, tuyên truyền là chủ thể của ai?
Một người Mỹ gốc Việt hay Pháp gốc Việt hoàn toàn có quyền yêu quê hương tổ tiên, quảng bá văn hóa Việt Nam, vận động cho quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, thậm chí công khai ủng hộ chính sách của Hà Nội. Cũng như họ có quyền phê phán chính sách ấy hay biểu tình chống chính quyền Việt Nam. Đó trước hết là quyền của họ trong xã hội mà họ là công dân.
Nhưng có một đường biên cần được nhìn thấy. Một bên là công dân tự mình lựa chọn tiếng nói của mình; bên kia là hoạt động được tiến hành theo yêu cầu, chỉ đạo hoặc kiểm soát của một chính phủ nước ngoài nhằm tác động tới công chúng hay chính sách nước sở tại. Hoa Kỳ có Foreign Agents Registration Act (FARA), yêu cầu đăng ký và minh bạch đối với một số loại hoạt động như vậy. Pháp, với luật năm 2024 về phòng ngừa can thiệp nước ngoài, cũng đã thiết lập cơ chế khai báo hoạt động ảnh hưởng được tiến hành cho một mandant étranger, kể cả một số hoạt động truyền thông hướng tới công chúng.
Câu chữ trong Nghị quyết 23 không đủ căn cứ để kết luận Hà Nội muốn biến kiều bào thành những “dư luận viên” hay “đặc vụ” ở nước ngoài. Nhưng logic của nghị quyết đủ để đặt ra một câu hỏi chính đáng: “Phát huy vai trò chủ thể” ấy sẽ được thực hiện như thế nào, ai định hướng nội dung, ai tổ chức mạng lưới và mối quan hệ giữa những người tham gia với cơ quan Nhà nước Việt Nam sẽ được công khai đến đâu? Chính nghị quyết cũng yêu cầu công tác kiều bào phải phù hợp với pháp luật sở tại. Vì thế, Nhà nước càng cần phân biệt giữa ngoại giao nhân dân với hoạt động ảnh hưởng có tổ chức của một chính phủ ngoại quốc.
Hòa hợp hay một đường ranh mới?
Vấn đề sâu hơn, tuy nhiên, không nằm ở FARA hay luật của Pháp mà nằm trong chính triết lý của Nghị quyết 23. Một mặt, nghị quyết nói tới hòa hợp, xóa bỏ định kiến và lắng nghe ý kiến khác biệt; mặt khác, văn bản vẫn đặt Nhà nước vào vị trí nhận diện ai đóng góp tích cực, ai còn “định kiến,” ai có nhận thức hay hành động được coi là chưa phù hợp với “lợi ích quốc gia – dân tộc.” Câu hỏi từ thời Nghị quyết 36 vì thế trở lại: Ai có quyền định nghĩa thế nào là yêu nước và thế nào là phù hợp với lợi ích dân tộc?
Lợi ích quốc gia – dân tộc đương nhiên tồn tại. Nhưng nó không thể mặc nhiên đồng nhất với lợi ích của một chính đảng, cũng như lòng yêu nước không thể được đo bằng mức độ đồng thuận với chính quyền. Một người Việt có thể mong đất nước hùng mạnh nhưng phản đối chế độ một đảng; có thể muốn giúp một đại học trong nước nhưng đồng thời phê phán sự hạn chế tự do học thuật; có thể đầu tư về Việt Nam mà vẫn phản đối cách chính quyền đối xử với người bất đồng. Những điều đó không tự chúng làm cho họ bớt Việt Nam.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn gần đây đưa ra một cách hiểu rất đáng suy nghĩ: “Khép lại quá khứ” không phải xóa ký ức, mà là làm cho những đường ranh do chiến tranh, lý lịch hay khác biệt chính trị tạo ra không còn quyết định cách một con người được nhìn nhận và đối xử trong hiện tại. Người Việt ở nước ngoài có thể được mong đợi từ bỏ hận thù và chấp nhận những ký ức khác nhau; nhưng Nhà nước cũng phải chấp nhận nghĩa vụ tương ứng: Không dùng quá khứ, lý lịch hay khác biệt chính kiến để tiếp tục phân loại con người.
Hòa giải, hiểu như vậy, không còn là lời kêu gọi đạo đức gửi cho “bên thua cuộc.” Nó trở thành một phép thử đối với thể chế.
Bởi nếu một mặt kêu gọi “xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ,” nhưng mặt khác vẫn phân chia cộng đồng bằng những chuẩn mực chính trị do Nhà nước xác lập; nếu một mặt nói “lắng nghe ý kiến khác biệt,” nhưng chỉ những khác biệt được chính quyền đánh giá là phù hợp mới được chấp nhận, thì đường ranh cũ chưa chắc đã mất đi. Nó có thể chỉ được vẽ lại bằng một cây bút khác.
Bình cũ, rượu còn cũ hơn?
Có lẽ vì vậy, chữ đáng suy nghĩ nhất trong Nghị quyết 23 không phải “hòa hợp” mà là “nguồn lực.” Người Việt ở nước ngoài quả thực là nguồn lực rất lớn về vốn, tri thức, công nghệ và mạng lưới quốc tế. Nhưng trước khi là nguồn lực, họ là con người; và hàng triệu người trong số họ còn là công dân của những quốc gia khác, nơi họ đóng thuế, bỏ phiếu, nuôi con và thực hiện nghĩa vụ công dân.
Một chính sách kiều bào hiện đại vì thế phải vượt qua tư duy “vận động” và “tuyên truyền.” Nó phải chấp nhận cả quyền không được vận động thành công. Người Việt ở nước ngoài có quyền gửi tiền hoặc không gửi; đầu tư hoặc không đầu tư; ca ngợi Việt Nam hoặc phê phán chính quyền; gần gũi Hà Nội hoặc đối lập với Hà Nội, miễn là họ tuân thủ pháp luật. Việc Nhà nước chấp nhận quyền lựa chọn ấy không phải trở ngại của hòa hợp. Đó chính là một bằng chứng của hòa hợp.
Hai mươi hai năm sau Nghị quyết 36, Nghị quyết 23 xuất hiện với một bộ từ vựng mới. Nhưng nếu tư duy căn bản vẫn là Nhà nước đứng ở trung tâm, phân loại cộng đồng, lựa chọn những lực lượng “tích cực” để tập hợp và huy động, trong khi những người khác tiếp tục được nhìn qua lăng kính “định kiến” hay “nhận thức chưa phù hợp”, thì vấn đề không còn chỉ là bình mới rượu cũ.
Cái “bình tư duy” ấy đã cũ, nhưng “thứ rượu” bên trong có khi còn cũ hơn!
Và đó mới là điều đáng lo cho tương lai của Nghị quyết 23. Bởi một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới. Nó có thể huy động thêm kiều hối, thu hút thêm chuyên gia, tạo thêm những “đại sứ văn hóa” và những mạng lưới tuyên truyền; nhưng điều khó tạo ra nhất lại chính là thứ mà hơn nửa thế kỷ qua Nhà nước vẫn kêu gọi: Lòng tin.
Không có lòng tin thì không có hòa giải. Không có quyền khác biệt thì không có lòng tin. Và nếu không thay đổi từ chính điểm ấy, giới hạn của Nghị quyết 23 có lẽ đã có thể nhìn thấy ngay từ ngày nó ra đời.
Hơn nửa thế kỷ sau 1975, người Việt ở nước ngoài không cần được nghe thêm rằng họ là “khúc ruột ngàn dặm,” Điều họ cần là được thừa nhận như những con người trưởng thành, có ký ức riêng, chính kiến riêng và quyền tự quyết định mình muốn gắn bó với quê hương bằng cách nào.
Bởi hòa giải không bắt đầu khi mọi người cùng nói một tiếng nói.
Hòa giải chỉ thực sự bắt đầu khi một dân tộc đủ sức chứa những tiếng nói khác nhau mà vẫn nhận ra nhau là đồng bào.
Trần Đông A
—
Tài liệu tham khảo:
1) Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài – Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao – https://scov.gov.vn/cong-tac-doi-ngoai/ngoai-giao-chinh-tri/bo-chinh-tri-ban-hanh-nghi-quyet-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai.html
2) “Nghị quyết 23: Bước phát triển rõ nét với công tác người Việt Nam ở nước ngoài” – https://vnembassy-paris.mofa.gov.vn/vi/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/nghi-quyet-23-buoc-phat-trien-ro-net-voi-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-61867-1073.html
3) Nguyễn Văn Tuấn, “Thế nào là ‘khép lại quá khứ’?” – Văn Việt, 24/9/2026. Nguồn trực tiếp lập luận của bài về hòa giải, ký ức và việc không tiếp tục tái tạo những đường ranh của quá khứ trong hiện tại. https://vanviet.info/van-de-hom-nay/the-nao-la-khep-lai-qua-khu/
4) Nguyễn Văn Tuấn, “Thế nào là ‘khép lại quá khứ’?” – bản đăng trên Ba Sàm, kèm phần giới thiệu và bối cảnh liên quan đến cộng đồng người Việt hải ngoại – https://basamnhv.wordpress.com/2026/09/24/3093-the-nao-la-khep-lai-qua-khu/
5) ACAT-France – Lời kêu gọi của 13 tổ chức nhân quyền gửi Tổng thống Emmanuel Macron nhân chuyến thăm Pháp của Tô Lâm, tháng 9/2026 – https://www.acatfrance.fr/visite-de-to-lam-president-et-secretaire-general-du-parti-communiste-vietnamien-en-france-appel-de-13-organisations-de-defense-des-droits-humains-a-emmanuel-macron/
6) U.S. Department of Justice – Foreign Agents Registration Act (FARA). Nguồn chính thức cho thấy sự phân biệt giữa quyền tự do bày tỏ chính kiến với hoạt động thuộc diện phải đăng ký vì được tiến hành cho một foreign principal –https://www.justice.gov/nsd-fara
7) Haute Autorité pour la transparence de la vie publique (HATVP) – Répertoire de l’influence étrangère. Nguồn chính thức của Pháp về cơ chế minh bạch đối với một số hoạt động ảnh hưởng được thực hiện cho mandant étranger – https://www.hatvp.fr/la-haute-autorite/lencadrement-de-linfluence-etrangere/le-repertoire-de-linfluence-etrangere/



