Những nỗi sợ quanh giàn khoan 981

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nói cũng chẳng dám

Cho đến nay sự kiện giàn khoan HD 981 đã kéo dài một tháng. Với một lực lượng và phương tiện nhỏ nhoi, ít ỏi, nhưng tinh thần yêu nước cao vòi vọi; các chiến sĩ cảnh sát biển và ngư dân ta hàng ngày vẫn dũng mãnh liều thân lăn xả vào quần thảo với một lực lượng hàng trăm tàu to súng lớn của kẻ cướp nước để quyết tâm bảo vệ biển – đảo tổ quốc. Trong khi đó thì cả tháng qua những người lãnh đạo cao nhất đảng Cộng Sản Việt Nam chưa ai lên tiếng trong cương vị lãnh đạo đất nước của họ đối với vấn đề giàn khoan, ngoại trừ một số tuyên bố khá cứng rắn của ông Nguyễn Tấn Dũng trong cương vị thủ tướng. Thế nhưng bài diễn văn của đại tướng Phùng Quang Thanh trong Hội nghị Shangri-La lần thứ 13 tại Singapore cuối tuần qua lại như gáo nước lạnh dội vào những tuyên bố “có lửa” trước đó của ông ta.

Bàn cũng không được

Sự kiện Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 đến Hoàng Sa là một biến cố chấn động. Nó không chỉ khiến người Việt cả ở trong lẫn ngoài nước phẫn nộ, mà cả một số nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới cũng phải lên tiếng. Đã có một số nhận định cho rằng, khi đưa giàn khoan đến khoan thử trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là Trung Cộng đang công khai hoá ý đồ của họ trong tiến trình xâm lược và dần dần chiếm trọn biển Đông. Thế nhưng, tập thể lãnh đạo cao cấp nhất của đảng CSVN dường như vẫn coi như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Họ lo họp hội nghị trung ương đảng của họ, chẳng phải để bàn chuyện đất nước lâm nguy, mà để bàn chuyện sắp xếp nhân sự cho kỳ đại hội đảng kỳ tới và chuyện…văn hoá, một vấn đề mà nghị quyết đại hội đảng nào cũng đề ra nhưng tình trạng văn hoá (nói chung) vẫn ngày càng be bét. Bài diễn văn bế mạc hội nghị trung ương 9 của ông Nguyễn Phú Trọng chỉ có một đoạn rất ngắn đề cập qua loa về tình hình biển Đông “phức tạp”, nhưng cũng đoạn đó ông lại đặc biệt chú trọng đặc biệt đến việc đối phó với 4 nguy cơ (1) có thể khiến đảng phải tiêu vong. Điều này cho thấy đảng chỉ lo củng cố và bảo vệ đảng chứ không hề lo mất nước.

Xin gặp cũng không cho

Được biết, ông Nguyễn Phú Trọng có xin gặp Tập Cận Bình hai lần nhưng chẳng được chấp thuận. Đây là một hình ảnh vô cùng ấn tượng, vì lịch sử Việt Nam hơn 200 năm trước cũng có một hình ảnh tương tự như vậy. Lúc đó Tôn Sĩ Nghị đem quân sang chiếm nước ta. Mỗi buổi sáng vua Lê Chiêu Thống đến chầu chực trước dinh họ Tôn, hôm nào vui thì Tôn Sĩ Nghị cho gặp, hôm nào buồn thì cho lính hầu ra đuổi về. Thời gian tuy cách nhau hơn 2 thế kỷ, nhưng hình ảnh Lê Chiêu Thống của thế kỷ 18 và hình ảnh Lê Chiêu Thống của thế kỷ 21 xem ra chẳng khác nhau lắm. Chỉ có điều là thời ông vua Lê Chiêu Thống nước ta không mất một tấc đất nào, còn ngày nay thì mất đất, mất biển, mất đảo và nhiều thứ khác.

Tuy không biết cụ thể những gì ông Nguyễn Phú Trọng định “khấu tấu” với ông Tập Cận Bình, nhưng cứ nhìn lại từ công hàm Phạm Văn Đồng đến hội nghị Thành Đô, rồi 4 tốt – 16 chữ vàng, Nam Quan, Bản Giốc,… đến mấy bài viết mang tính cách năn nỉ ỉ ôi “mất bát nước đầy” trên báo đảng gần đây….. thì người ta có thể nói chắc như đinh đóng cột là: nếu được gặp lãnh đạo nước Tàu thì ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục con đường “vừa lùi vừa lạy” của lãnh đạo đảng CSVN chứ không có gì khác.

Đại cục hóa ra chỉ là một cục lớn

Cuối năm 2012 ông Nguyễn Phú Trọng và Tướng Nguyễn Chí Vịnh mang từ Bắc Kinh về cái “đại cục” giữa hai nước”. Chẳng biết cái “đại cục” đó nó có to bằng giàn khoan HD 981 hiện nay hay không, nhưng qua những tuyên bố sau đó (như được trích dẫn lại dưới đây), thì chắc chắn đó chỉ là “đại cục” giữa hai đảng Cộng Sản anh em, chứ chẳng liên quan gì đến đất nước và dân tộc Việt cả. Bởi vậy, dù có vụ việc giàn khoan 981 thì sự chuẩn bị nhân sự cho kỳ đại hội đảng sắp tới tại hội nghị trung ương 9 cũng khó thoát khỏi tinh thần của những tuyên bố này. Đây không phải là điều võ đoán, mà theo thông lệ, những nhân vật chóp bu của đảng ít nhiều đều phải có sự chuẩn nhậm từ Bắc Kinh.

  • (Hai nhà lãnh đạo Việt – Trung) khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được hai bên không ngừng củng cố, phát triển và truyền mãi cho các thế hệ mai sau” (2)
  • Tân Hoa xã cũng dẫn lại lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi tiếp Đại sứ Khổng Huyền Hựu khẳng định rằng, quan hệ giữa hai nước đã được củng cố và đã trở thành tài sản vô giá của nhân dân hai nước (3). (Bản tin này đã bị xoá trên trang mạng báo Lao Động)
  • Tướng Nguyễn Chí Vịnh (tuy là thứ trưởng quốc phòng nhưng lại hay tuyên bố và làm những việc của bộ ngoại giao) trong bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ đầu năm 2013 viết như sau: “Di sản quý báu hàng đầu mà Việt Nam và Trung Quốc có được chính là sự tương đồng ý thức hệ. Điểm tương đồng đó đã tạo ra mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc… Nền tảng di sản đó chi phối cách ứng xử của hai nước. Một trong những đặc trưng của ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nếu có được một người bạn XHCN rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam”.(4)

“Tài sản quý báu chung của hai đảng”, “tài sản vô giá của nhân dân hai nước”, “di sản quý báu hàng đầu là sự tương đồng ý thức hệ”, hay “4 tốt – 16 chữ vàng” trước đó v.v… có thể đều là những cái phao cho lãnh đạo đảng bám vào trong thời buổi chiều tàn của ngôi vị cai trị; nhưng rõ ràng là chẳng giúp ích gì cho Việt Nam trước nguy cơ xâm lược hiện nay.

Cục xương “công hàm” nuốt hay nhả

Sau khi ông Nguyễn Phú Trọng không được Tập Cận Bình cho bệ kiến, bộ ngoại giao tiếp tục sự nghiệp “ôm chân nước mẹ” của đảng, nhưng cả 20 lần nhào đến ôm đều bị đá ngược trở lại. Trung Cộng bảo rằng, công hàm (hay công thư đều cùng một nghĩa) Phạm Văn Đồng ký nhượng Hoàng Sa -Trường Sa cho họ rành rành ra đó. Thế là bức công hàm của đảng CSVN do ông Phạm Văn Đồng ký 56 năm trước, và đảng vẫn chủ tâm quanh co dấu diếm từ hàng chục năm nay, đã trở thành lớn chuyện. Nó càng quan trọng hơn vì qua tinh thần công hàm đó mà Trung Cộng đã tuyên bố coi vùng biển được ký nhượng là vùng “hạch tâm nghĩa lợi” (quyền lợi cốt lõi) của họ. Vì vậy không còn gì để bàn luận thêm về chủ quyền ở đó nữa.

Chuyện công hàm Phạm Văn Đồng đã được các diễn đàn “lề trái” thảo luận, mổ xẻ theo đủ chiều từ mấy năm nay nên không cần nhắc lại ở đây. Dù rằng, cho đến khi văn bản đó chưa được một cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền cao hơn thủ tướng (người ký công hàm) phủ định, thì nó vẫn tiếp tục là một phương tiện ngăn chặn con đường pháp lý của Việt Nam, đồng thời là cơ sở cho Trung Cộng tiếp tục lấn chiếm biển, đảo.

Nhưng sợ nhất vẫn là các bí mật Bắc Kinh chưa tung ra

Bắc Kinh biết họ đang nắm “phần hồn” của giới lãnh đạo đảng CSVN và trong những năm qua vẫn thường xuyên nhắc Hà Nội là họ sẵn sàng bật mí các bí mật đó qua việc thỉnh thoảng lại xì ra thêm một ít bí mật về đời tư ông Hồ Chí Minh với đầy đủ bút tích, hình ảnh. Nhưng còn rất nhiều những bí mật khác trong tay Bắc Kinh còn động trời hơn nhiều, như các điều khoản ký kết ở Thành Đô mà tới giờ Hà Nội vẫn giấu hơn cả bí mật quốc gia; đến các bản đồ ký kết biên giới suốt từ năm 1999 mà tới ngay Hà Nội vẫn không dám để dân biết; đến các hình ảnh chụp cảnh ăn chơi sa đọa của TBT Lê Khả Phiêu bên Tàu; đến các điều khoản mà TBT Nông Đức Mạnh, TBT Nguyễn Phú Trọng đã âm thầm ký riêng với Bắc Triều; đến danh sách các quan chức ở thượng tầng đảng CSVN đã nhận quà khủng của Bắc Kinh.

Đó mới là cái “cán” mà Bắc Kinh đang nắm. Và chỉ cái “cán” đó mới giải thích được thái độ chịu nhục siêu phàm của toàn bộ phận lãnh đạo CSVN hiện nay.

Nhưng điều làm nhiều người Việt tức điên lên được là các tuyên bố của giới lãnh đạo rằng họ đang nhẫn nhịn như thế là vì đất nước và dân tộc Việt Nam.

===

Ghi chú:

1. Bốn nguy cơ được thông qua ở hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (tháng 1/1994) gồm: a/ Nguy cơ tụt hậu, b/ nguy cơ chệch hướng chính trị, c/ nguy cơ tham nhũng tràn lan và d/ nguy cơ diễn biến hoà bình.

Tài liệu học tập do Ban văn hoá tư tưởng Trung ương phổ biến trong nội bộ đảng còn nhấn mạnh: trong 4 nguy cơ kể trên, nguy cơ diễn biến hoà bình là nghiêm trọng hơn cả.

2. http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1366&Chitiet=40314&Style=1

3. http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Truyen-thong-Trung-Quoc-dua-tin-ve-chuyen-tham-cua-Tong-Bi-thu-Viet-Nam/61994

4. http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=165208

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.