Những sai lầm của CSVN qua vụ bắt giữ Ts Nguyễn Quốc Quân

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trước những áp lực mạnh mẽ của công luận, nhất là từ phía Hoa Kỳ, Cộng sản Việt Nam đã phải trả tự do cho Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào chiều ngày 30 tháng 1 năm 2013 sau 9 tháng giam giữ phi lý và phi pháp.

Theo dự tính, CSVN đã phải đưa Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân ra tòa vào ngày 22 tháng 1 với tội “âm mưu lật đổ chế độ”, nhưng trước đó 4 hôm, ngày 18 tháng 1, Viện kiểm sát thành phố Sài Gòn ra quyết định đình hoãn và không cho biết sẽ đình hoãn đến bao giờ. Nhưng đến sáng ngày 30 tháng 1, công an trại giam Nguyễn Văn Cừ đã áp giải Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân ra phi trường Tân Sơn Nhất và đọc lệnh trục xuất khỏi Việt Nam.

Việc trục xuất Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân xảy ra một ngày sau khi Thượng Viện Hoa Kỳ biểu quyết chấp nhận đề cử của Tổng thống Obama trong việc tiến cử Thượng nghị sĩ John Kerry trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ thay thế bà Ngoại trưởng Hillary Clinton trong nhiệm kỳ 2. Một số dư luận đã suy luận rằng, CSVN không muốn tạo sự khó khăn trong mối quan hệ giữa họ với tân Ngoại trưởng John Kerry – vốn có những thiện cảm với CSVN trước đây – nên đã gấp rút thả Tiến sĩ Quân để mong chờ có những hợp tác tốt hơn từ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ so với thời gian vừa qua.

Mặc dù chỉ là những suy luận, nhưng sự kiện Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã không xúc tiến cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ hàng năm mà đáng lý diễn ra cuối tháng 11/2012 và trì hoãn một số viện trợ nhân đạo vào đầu năm 2013, cho thấy là các áp lực của Hoa Kỳ nói riêng và của công luận nói chung về vấn đề nhân quyền, đã làm cho CSVN lúng túng trong cách giải quyết vấn đề Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân.

Tuy nhiên nếu nhìn kỹ lại những ứng xử của Cộng sản Việt Nam trong việc bắt giữ Tiến sĩ Quân từ ngày 17 tháng 4 năm 2012 tại phi trường Tân Sơn Nhất cho đến khi trục xuất anh vào ngày 30 tháng 1 năm 2013, những lúng túng của Hà Nội bắt nguồn từ các tính toán sai lầm của bộ máy công an an ninh.

Sai lầm thứ nhất là bắt quá vội tại phi trường Tân Sơn Nhất khi anh vừa nhập cảnh ngày 17 tháng 4 năm 2012. Công an đã “vồ” lấy Tiến sĩ Quân như một chiến thắng bắt được cán bộ cao cấp của đảng Việt Tân trong khi anh đi vào Việt Nam với giấy tờ hoàn toàn hợp lệ. Sai lầm kế tiếp là cáo buộc anh tội danh “khủng bố” một cách khơi khơi không có bất cứ bằng chứng nào. Lý do của hai sai lầm căn bản này đến từ não trạng tự cho mình có quyền lực độc tôn nhưng lại ám ảnh nỗi lo diễn biến hòa bình từ phương pháp đấu tranh bất bạo động do đảng Việt Tân cổ suý.

Sau 4 tháng giam giữ phi lý, CSVN lại rơi vào sai lầm kế tiếp khi tùy tiện đổi từ tội danh “khủng bố” sang “âm mưu lật đổ chế độ”. Đến lúc này, CSVN đã rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan KÉP: 1/ Thả sớm mà không xét xử thì tự tố cáo việc bắt giữ tùy tiện sai trái của mình, mà giữ lâu thì bị công luận lên án, đặc biệt là phía Hoa Kỳ vì những lý cớ đưa ra hoàn toàn không thuyết phục. 2/ Bản án nhẹ hay tha bổng nào dành cho Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào lúc này đều trở thành sự khích lệ cho các nhà dân chủ.

Sai lầm thứ hai là dàn dựng bản cáo trạng để mang Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân ra tòa. CSVN dùng phiên tòa nhắm vào hai chủ đích: để cô lập các hoạt động của đảng Việt Tân tại Việt Nam mà chế độ đánh giá là đang có những ảnh hưởng trong xã hội và để răn đe Tiến sĩ Quân đã dám ra coi thường bộ máy an ninh, ra vào Việt Nam nhiều lần sau vụ bị bắt lần thứ nhất tháng 11/2007.

Sau khi công bố cáo trạng của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào tháng 8 năm 2012 cùng lúc với cáo trạng xử 14 thanh niên công giáo, CSVN nghĩ rằng sẽ làm cho dư luận lo sợ không dám đến với đảng Việt Tân và Tiến sĩ Quân phải đầu hàng nhận tội. Nhưng sự hù dọa đó đã không làm lung lạc ý chí của Tiến sĩ Quân khi chính anh đã chọn con đường đồng cam cộng khổ với các nhà dân chủ và sẵn sàng phản cung tại tòa về đường lối đấu tranh bất bạo động của đảng Việt Tân.

Sai lầm thứ ba là CSVN đã quá coi thường dư luận khi kết án rất nặng đối với 14 thanh niên Công giáo và Tin lành tại Vinh hôm mồng 8 và 9 tháng 1 vừa qua khi bị quy chụp là tham gia các khóa học đấu tranh bất bạo động do đảng Việt Tân tổ chức. Tổng cộng án tù của 14 thanh niên yêu nước này lên đến hơn 100 năm bao gồm những năm tù giam và quản chế sau khi mãn tù. Từ Liên Hiệp Quốc đến chính phủ Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới, các tổ chức nhân quyền và các cơ quan truyền thông, báo chí quốc tế đều lên án tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam và không chấp nhận bản án. Có thể nói CSVN đã hứng chịu một trận bão dư luận thế giới ào ạt chưa từng có vào đầu năm 2013 qua phiên tòa ô nhục tại Vinh.

Cùng bị cáo buộc tội danh ‘âm mưu lật đổ chế độ’ và bị quy chụp là đã dạy đấu tranh Bất Bạo Động cho một số thanh niên yêu nước tại Vinh, CSVN không thể xử nhẹ tay Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân khi đã nặng tay với 14 thanh niên Công giáo. Nhưng nếu kết án nặng như các thanh niên yêu nước thì chắc chắn sẽ bị thêm một trận bão dư luận của thế giới, nhất là từ phía chính quyền Hoa Kỳ; còn nhẹ tay để tránh không làm cho tân Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry khó chịu và công luận bớt phẫn nộ thì Hà Nội lại tự bêu rếu chính họ về sự xét xử tùy tiện.

Những sai lầm nói trên đã khiến cho CSVN lúng túng. Cuối cùng họ đã phải tự “gỡ rối” những sai lầm trong vở kịch bắt giữ Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân suốt 9 tháng qua vì không còn có thể giữ lâu hơn nữa, bằng cách phải đình hoãn phiên tòa vô hạn định và âm thầm trục xuất Tiến sĩ Quân với một lý cớ nực cười là “đã nhận tội và xin khoan hồng”.

Đúng như chị Mai Hương, vợ của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân nói với ký giả BBC hôm 30/1 rằng: “Nếu anh Quân nhận tội, anh đã về từ chín tháng trước.”

Trung Điền
31/1/2013

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”