Nỗi Đau “Cải Cách Ruộng Đất”

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Một mẩu tin ngắn loan tải trên báo Hà Nội Mới, ngày 4/10/2004 với tựa đề “Hà Nội trợ cấp cho những gia đình bị trưng mua tài sản trong thời kỳ cải cách ruộng đất”, đã làm độc giả không những ngạc nhiên mà còn thêm đau lòng, xót xa cho những số phận nạn nhân của chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất” đầy máu và nước mắt, cách nay nửa thế kỷ. Chỉ cần đọc kỹ hơn cái tựa đề của bản tin đó thôi ai cũng có thể thấy được một sự thật đầy mỉa mai trong những từ ngữ như “trợ cấp”, “trưng mua”. Trợ cấp hay là bồi thường thì đúng hơn, vì làm gì có chuyện “ban ơn” lại cho chính những nạn nhân mà chính quyền đã gây ra? Phải chăng đây chỉ là nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý nếu phải dùng chữ “bồi thường” để phản ảnh sự thật là một bên có lỗi hay phạm sai lầm!? Trưng mua hay là cưỡng chiếm, tịch thu thì đúng hơn, vì làm gì mà chính quyền lúc đó có tiền để “trưng mua” thật sự các loại tài sản của dân lúc bấy giờ?

Bản tin viết như sau: “UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 6219/QĐ-UB (ngày 23/9/2004) về việc trợ cấp cho một số trường hợp có tài sản bị trưng thu, trưng mua trong thời kì cải cách ruộng đất với mức là 3.000.000 đồng/trường hợp… Cũng theo quyết định trên, các trường hợp bị qui sai thành phần trong thời kì cải cách ruộng đất có tài sản bị tịch thu, sau khi sửa sai đã có quyết định điều chỉnh thành phần mà không được cấp giấy chứng nhận đền bù tài sản, hoặc trường hợp được Nhà nước trưng mua (như nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường) nhưng không được cấp giấy trưng mua tài sản có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội đều được nhận mức trợ cấp trên… Thời gian thực hiện việc xem xét trợ cấp sẽ kết thúc vào ngày 31/3/2005.”

Qua bản tin này, chúng ta thấy ba điều:

Thứ nhất, việc chính phủ thời bấy giờ và hiện nay không còn lưu giữ đầy đủ các loại giấy tờ, tài liệu, các chi tiết ghi nhận những trường hợp cá nhân hay gia đình liên quan đến chiến dịch Cải cách ruộng đất, để phải yêu cầu các nạn nhân nộp đơn xin “trợ cấp”, không chỉ là một sai lầm không thể chấp nhận được mà còn cho thấy sự gian dối, thiếu thành tâm của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Chiến dịch Cải cách ruộng đất là một chiến dịch quy mô, có hệ thống do chính phủ cộng sản thời bấy giờ tổ chức tiến hành chặt chẽ, được Trung Ương đảng Lao Động VN, chính phủ của Hồ Chí Minh và Quốc Hội lúc bấy giờ xét duyệt và ban hành, thì tại sao các tài liệu, danh sách cá nhân, gia đình những người liên hệ lại không được lưu giữ ở đâu đó? Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, trong lần thí điểm đầu tiên vào năm 1952 đã diễn ra “một tòa án CCRĐ xử tử hình bà Nguyễn Thị Năm, tức là Cát Thành Long, người mà thời trước cách mạng đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản… Còn trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới…” Bà đã bị quy kết là địa chủ, cường hào ác bá, bị xử án tử hình do Ủy Ban Cải cách ruộng đất Trung ương và Ban chấp hành Trung ương đảng Lao Động Việt Nam vào lúc đó duyệt và chuẩn y! Hàng ngàn người đã là nạn nhân của chính sách Cải cách ruộng đất (thực sự bắt đầu vào năm 1953) đâu phải là một con số không nhỏ để Hà Nội không ghi lại những tài liệu liên quan đến chiến dịch này? Người dân có quyền nghi ngờ rằng sau khi nhận thấy chiến dịch đã vi phạm những sai lầm quá nghiêm trọng, một loại hình tội ác mang tính lịch sử, cho nên chính quyền Hà Nội đã tiêu hủy hầu hết các giấy tờ quan trọng liên quan. Một điều oái ăm nữa là thậm chí có những trường hợp sau khi chính quyền Hà Nội sửa sai và đã có quyết định điều chỉnh nhưng các nạn nhân lại không được cấp giấy chứng nhận đền bù trưng thu tài sản.

Thứ nhì, thời gian chính quyền nhận xem xét đơn (từ 23/9/2004 đến 31/3/2005) trong vòng 6 tháng là gấp rút, mang tính hình thức, và mức bồi thường chỉ vỏn vẹn 3 triệu đồng Việt Nam ($200 Mỹ Kim) cho mỗi trường hợp thì có nghĩa là bao so với thời giá hiện nay khi mỗi một mét vuông đất (chưa kể giá trị nhà) cũng đã từ vài triệu trở lên. Thế còn những nạn nhân đã bị gán cho những cái tên như là “cường hào ác bá”, ’địa chủ phản động” và bị nhẫn tâm trừng trị bằng xử bắn thì không được đề cập đến, nói chi đến việc “trợ cấp” cho gia đình, con cháu của họ. Ngoài ra, thủ tục nộp đơn còn nhiều phức tạp, nhiêu khê như giấy xác nhận của chính quyền, của người làm công tác trong đội cải cách lúc bấy giờ(!), của người đã sử dụng tài sản của gia đình thời kỳ đó, giấy chứng nhận của cấp có thẩm quyền trước đây khi sửa sai.v.v… Những bước nộp đơn này đã càng gây cho gia đình, dòng họ của các nạn nhân thêm nhiều khó khăn, lo lắng về những việc mà chính những người có trách nhiệm, chính quyền trách nhiệm phải tự động tiến hành để bồi thường nhanh chóng và công bằng cho họ hoặc con cháu của họ.

Thứ ba, chính quyền Hà Nội đã tiếp tục khơi dậy những vết thương lòng của những gia đình nạn nhân và toàn dân Việt Nam nói chung về một biến cố đẫm máu này và vẫn hoàn toàn không nhận thấy được mức độ trầm trọng của những tội ác này qua việc thực hiện chính sách “trợ cấp” một cách chiếu lệ, không công khai rộng rãi trên toàn quốc. Phải chăng đảng Cộng sản Việt Nam chỉ chọn “thí điểm nhỏ” tại thành phố Hà Nội trước vì sợ bị dấy lên một làn sóng đòi hỏi bồi thường và công lý cho những gia đình nạn nhân Cải cách ruộng đất?

Thật ra, một lời chính thức công khai xin lỗi toàn dân, thông báo bồi thường xứng đáng cho tất cả các nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của chiến dịch Cải cách ruộng đất mới thực sự là điều quan trọng và có ý nghĩa. Nhưng qua bao thời kỳ từ thời Cải cách ruộng đất đến nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể làm được điều đó. Những hành động, chính sách mị dân, lập lờ gọi là “trợ cấp” này đã chứng minh rõ ràng bản chất thật sự của mối quan hệ chủ và tớ, cho và xin giữa đảng Cộng sản và đồng bào, và chỉ là những động tác giả để lấp liếm quá khứ tội lỗi, để đánh lừa dư luận quần chúng, và để cứu vãn hình ảnh không mấy đẹp đẽ mà toàn dân Việt Nam đã từng biết qua bộ mặt thật của thể chế cộng sản. (Đ.V.)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”