Nông sản Việt đến bao giờ mới ‘thoát Trung’?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam mới công bố cho thấy, Trung Quốc đang là thị trường xuất khẩu chính của rau quả Việt Nam với tỷ trọng chiếm tới 74,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả trong 5 tháng đầu năm 2018. Xuất khẩu hàng rau quả sang thị trường Trung Quốc có lợi thế về vị trí địa lý gần, tập quán, thị hiếu tiêu dùng tương đồng với Việt Nam. Tuy nhiên, con số 74,6% rau, quả xuất khẩu Trung Quốc đang khiến ngành rau quả nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung đối mặt với nhiều rủi ro.

Nông sản bị ép giá. Rau, củ, trái cây, gia súc, gia cầm, thịt, trứng… bị đổ bỏ là điệp khúc diễn ra trong nhiều thập niên ngành nông nghiệp Việt Nam làm ăn với thương lái Trung Quốc. Có lẽ không chỉ riêng với nông dân Việt Nam, mà ngay cả các chuyên gia trong ngành nông nghiệp vẫn không thể nào quên những bài học xương máu từ việc hàng nông sản quá phụ thuộc vào thị trường này.

Cái cách mà thương lái Trung Quốc khiến thị trường nông sản Việt Nam lao đao từ trước đến nay không mới. Đó vẫn chỉ là chuyện tăng thu gom, tăng giá, người dân ồ ạt đầu tư vào trồng trọt, chăn nuôi… kết thúc là thương lái Trung Quốc đột ngột biến mất, hoặc ngừng thu mua, để lại hậu quả nặng nề cho nông dân.

Những người nuôi heo ở nhiều nơi tại Việt Nam không ít lần nghẹn ngào khi giá heo hơi rớt từ 40,000 đồng/ký xuống còn 28,000/ký vì Trung Quốc ngưng nhập heo. Lỗ nặng cả về công sức lẫn về vốn, nhưng nông dân phải bán đổ, bán tháo vì càng nuôi càng lỗ.

Sau heo tới gà. Và điều tương tự diễn ra với dưa hấu. Cũng với cách thức thu mua ào ạt, thương lái Trung Quốc đẩy giá lên cao rồi bỗng dưng dừng mua đột ngột khiến không ít người trồng dưa ở Miền Trung, Miền Nam lâm vào cảnh phá sản. Người trồng dưa chỉ có một lựa chọn duy nhất: Hoặc đem công sức, vốn liếng của mình cho… bò ăn. Nếu không có bò, thì để mặc cho nông sản mình làm ra mục thối ngoài ruộng, vườn!

Sản phẩm mủ cao su cũng đã và đang phải nhận quả đắng từ thị trường đầy may rủi này. Cách đây 10 năm, cao su được mệnh danh là “vàng trắng” vì được tiêu thụ mạnh, tới 80% từ thị trường Trung Quốc với giá cao. Nhưng hiện nay với sự phá giá của đồng nhân dân tệ và những mánh lới của thương lái đã khiến ngành cao su Việt lâm vào khó khăn. Không ít doanh nghiệp cao su lớn đã phải tồn tại bằng cách chặt bỏ cây cao su.

Rồi chuyện tiếp tục lặp lại với hoa, cà chua, cá sấu… và vô số những quả đắng khác mà nông dân Việt đã từng nếm trải từ thương lái Trung Quốc như thu mua đĩa, lá điều, gốc tiêu, móng trâu, thanh long…

Vấn đề nông sản Việt phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc không phải là câu chuyện ngày một, ngày hai, mà là một câu chuyện dài kỳ. Thế nhưng, không hiểu vì sao đến thời điểm này, các mặt hàng nông sản của Việt Nam vẫn chưa thực sự tìm được hướng đi ổn định. Đáng ngạc nhiên là giới lãnh đạo, chính quyền Việt Nam vẫn chỉ ca một bài. Đó là đã “cảnh báo” về “nguy cơ” trồng theo, nuôi theo đơn đặt hàng của thương lái Trung Quốc nhưng nông dân không nghe. Hệ thống công quyền Việt Nam đã soạn ra kế hoạch phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân từ lâu. Nhưng vẫn không thể hướng dẫn nông dân trồng gì, nuôi gì và cũng không thiết lập được mạng lưới tiêu thụ, xuất cảng nông sản. Những điểm thiết yếu đó vẫn do thương lái Trung Quốc nắm giữ. Đó là lý do nông dân Việt Nam tiếp tục trắng tay vì những chiêu trò của thương lái Trung Quốc.

Hiện có 8 mặt hàng nông sản của Việt Nam có giá trị xuất khẩu tỷ USD, tuy nhiên, đáng lo là ngoại trừ hạt tiêu, 7 mặt hàng xuất khẩu còn lại đều phụ thuộc vào Trung Quốc, bao gồm: sắn, rau quả, cao su, gạo, hạt điều, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ. Đây là một điều vô cùng cấm kỵ đối với thương mại quốc tế.

Theo Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc, việc phụ thuộc vào một thị trường là một yếu tố rủi ro không thể xem thường. Nếu có biến động từ thị trường đó thì người lao động sẽ gặp khó khăn lớn, kim ngạch xuất khẩu bị giảm sút, tác động tiêu cực đến cân đối thương mại và thanh toán quốc tế. Ngoài ra, nếu thị trường xuất khẩu bị giảm sút hay hạn chế, hàng hóa ứ đọng cũng gây thiệt hại lớn.

Đã có những bài học về việc Trung Quốc thường xuyên sử dụng quan hệ xuất – nhập khẩu, đầu tư, du lịch… như một công cụ chính sách tác động đến kinh tế của các đối tác. Điển hình là để thể hiện sự không hài lòng về việc Hàn Quốc lắp đặt hệ thống tên lửa THAAD, Trung Quốc đã đình chỉ du lịch, tẩy chay hàng hóa và doanh nghiệp nước này. Trung Quốc cũng đã ngưng nhập khẩu than đá từ Triều Tiên từ tháng 2-2017. Trước đó, họ ngưng nhập khẩu nông sản của Philippines khi Tổng thống Aquino nộp đơn kiện về “đường lưỡi bò” lên Tòa án Quốc tế.

Hiện Việt Nam có khoảng 70% lao động đang sống ở nông thôn và thu nhập của họ lệ thuộc rất lớn vào nông sản. Chính vì vậy, mọi biến động về thương mại dù nhỏ sang thị trường Trung Quốc, sẽ lập tức tác động trực tiếp đến đời sống của đại đa số người dân Việt Nam. Để giảm thiểu rủi ro, Việt Nam phải phát triển thị trường xuất khẩu chính ngạch, phải ký với Trung Quốc hiệp định song phương để đảm bảo doanh nghiệp nước này làm ăn tử tế từ chất lượng sản phẩm đến vấn đề thanh toán.

Bên cạnh đó, để tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường, tránh những rủi ro không đáng có, Việt Nam phải hiện đại hóa nền nông nghiệp, đẩy mạnh sự liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, viện khoa học để tạo ra những sản phẩm chất lượng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Đồng thời, việc mở rộng thị trường xuất khẩu là rất cần thiết trong bối cảnh hiện tại. Việt Nam cần tham gia chuỗi giá trị quốc tế, mở rộng liên kết và mở rộng thị trường sang những nền kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên Minh Châu Âu hay Trung Đông… Phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trên mới mong có thể tìm ra hướng phát triển bền vững cho xuất khẩu rau, quả và hàng nông sản của Việt Nam.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cảnh người sử dụng mạng Internet tại một Internet cafe ở Vũ Hán, năm 2010. Ảnh: Jie Zhao/ Corbis via Getty Images

Bí quyết kiểm soát Internet của Trung Quốc

Khi Internet lần đầu tiên có thể truy cập được trên toàn thế giới, những người lạc quan hy vọng rằng nó sẽ có thể phá vỡ khả năng kiểm soát thông tin của các chế độ độc tài. Người ta cho rằng các chế độ độc tài sẽ bất lực trong việc chống lại cuộc cách mạng thông tin được tạo ra bởi bản chất phi tập trung của Internet. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nghĩ như vậy.

Một tàu container chở khách du lịch đi ngắm cảnh biển ở Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, đông nam Trung Quốc hôm 26/12/2023. Một cuộc khảo sát với các nhà quản lý nhà máy ở Trung Quốc cho thấy hoạt động sản xuất bị thu hẹp vào tháng 12, dấu hiệu mới nhất cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vẫn trì trệ. Ảnh: AP/Andy Wong

Những nghịch lý tăng trưởng trong nền kinh tế Trung Quốc

Những chỉ số tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc đã che khuất những chênh lệch và bất an xã hội tiềm ẩn.

Trung Quốc là một minh chứng điển hình cho nghịch lý tăng trưởng, nơi các chỉ số kinh tế ấn tượng đã che khuất những chênh lệch và bất an xã hội tiềm ẩn. Một so sánh giữa các con số kinh tế ấn tượng của Trung Quốc và thực tế đời sống của doanh nghiệp và người dân nước này sẽ giải thích cách những mâu thuẫn này cùng tồn tại.

Bà Nguyễn Thúy Hạnh, người chủ trương Quỹ 50 K hỗ trợ các tù nhân lương tâm và gia đình họ. Ảnh: change.org

Các tổ chức xã hội dân sự và cá nhân kêu gọi trả tự do cho bà Nguyễn Thúy Hạnh để chữa bệnh ung thư

Hôm 25/2/2024, các tổ chức xã hội dân sự và cá nhân đưa ra lời kêu gọi trên trang kiến nghị quốc tế change.org yêu cầu trả tự do cho bà Nguyễn Thúy Hạnh, người chủ trương Quỹ 50 K hỗ trợ các tù nhân lương tâm và gia đình họ, để bà chữa trị ung thư. Cho đến nay, nhiều người ở khắp nơi đã ký tên hưởng ứng lời kêu gọi này.