Nước nào sẽ chọn phe trong xung đột Đài Loan giữa Mỹ và Trung Quốc?

Hình minh họa: Stephen Case - SCMP
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nguồn: Which countries will pick sides in a US-China conflict over Taiwan,” Chu Ba, South China Morning Post, 24/07/2025

Biên dịch: Tạ Kiều Trang

Rất ít quốc gia muốn dính líu vào cuộc xung đột này, cũng không rõ Mỹ muốn can dự hay không

Có rất nhiều suy đoán về những bên thứ ba nào có thể can dự nếu chiến tranh nổ ra giữa Trung Quốc và Mỹ tại eo biển Đài Loan. Hồi tháng 6, tờ The Economist đã đăng một bài viết về vấn đề này. Gần đây hơn, tờ Financial Times đưa tin, Mỹ đang gây áp lực buộc Nhật Bản và Úc phải làm rõ vai trò của họ trong tình huống nói trên.

Có vẻ rất ít quốc gia sẽ đứng về phía Trung Quốc. Đồng minh hiệp ước duy nhất của Trung Quốc là Triều Tiên. Một hiệp ước năm 1961 buộc hai bên phải thực hiện “mọi biện pháp cần thiết” để chống lại bất kỳ quốc gia hay liên minh quốc gia nào tấn công vô cớ một trong hai bên. Việc Triều Tiên gửi quân sang chiến đấu cho Nga trong chiến tranh Ukraine có thể gợi mở một viễn cảnh tương tự trong tương lai, và đối với sự tồn vong của một đất nước đang chịu các lệnh trừng phạt quốc tế toàn diện, chắc chắn Bắc Kinh quan trọng hơn Moscow nhiều. Dù vậy, mối quan hệ Trung – Triều hiện có vẻ kém nồng ấm hơn mối quan hệ Nga – Triều.

Pakistan được coi là “người anh em sắt đá” của Trung Quốc. Với mối quan hệ gần như không thể cứu vãn với Ấn Độ, Pakistan có lẽ sẽ nghiêm túc cân nhắc thực hiện đến cùng nếu trong trường hợp xấu nhất Trung Quốc đề nghị họ đối đầu với Ấn Độ. Tuy nhiên, Islamabad tham gia một cuộc chiến để giúp Trung Quốc chống Mỹ – nhà cung cấp viện trợ chính cho Pakistan – lại là một điều rất khó xảy ra.

Đối tác chiến lược hữu ích nhất của Trung Quốc chắc chắn là Nga. Mối quan hệ gần gũi của họ thể hiện qua các cuộc tập trận thường xuyên trên không và trên biển. Nhưng tại sao Nga lại chọn dính líu vào một cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan khi Trung Quốc chưa từng viện trợ quân sự cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraine? Có lẽ Nga sẽ tiếp tục bán dầu và khí đốt cho Trung Quốc, cũng như Trung Quốc vẫn đang bán các mặt hàng phi quân sự cho Nga – nhưng có lẽ chỉ đến vậy.

Về phía Mỹ, chỉ một vài nước sẽ hỗ trợ quân sự cho Mỹ trong một cuộc xung đột với Trung Quốc, và mỗi nước cùng lắm sẽ làm việc này một cách miễn cưỡng. Bài viết của tờ The Economist dường như cũng có chung quan điểm khi trích dẫn một tài liệu gần đây của Trung tâm An ninh mới của Mỹ (CNAS), tuy rằng phân tích của tài liệu không hoàn toàn thuyết phục.

Kết luận đầu tiên của tài liệu rất hiển nhiên: Nếu Mỹ đứng ngoài cuộc chiến, các đồng minh cũng sẽ đứng ngoài. Kết luận thứ hai là nếu Mỹ can thiệp, đồng minh bị ảnh hưởng nhiều nhất sẽ là Nhật Bản và Philippines. Sự tham gia của Nhật Bản nhiều khả năng sẽ không vượt quá mức tuần tra bằng tàu ngầm hoặc tấn công bằng tên lửa. Philippines sẽ trở nên thận trọng hơn, tài liệu của CNAS cho biết. Nhưng nếu lực lượng Trung Quốc bị sa lầy, Philippines có thể sẽ bị cám dỗ muốn thúc đẩy các yêu sách của mình ở Biển Đông.

Tôi đồng ý rằng Nhật Bản và Philippines sẽ là những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất vì cả hai đều nằm trên chuỗi đảo thứ nhất gần bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi không chắc Nhật Bản sẽ tiến xa hơn mức hỗ trợ hậu cần cho Mỹ trong các cuộc tấn công bằng tên lửa vào Trung Quốc, trừ khi họ bị Trung Quốc tấn công trước.

Trong khi đó, thật vô lý khi cho rằng Philippines có thể bị cám dỗ muốn chiếm đoạt lãnh thổ ở Biển Đông. Nếu đúng như vậy, thì tại sao Việt Nam và Malaysia – những nước có quân đội mạnh hơn Philippines – lại không làm điều tương tự? Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ tiến đến chiến tranh, một thách thức với tất cả các nước Đông Nam Á sẽ là tránh một cuộc xung đột phủ bóng toàn khu vực. Nếu xung đột leo thang thành một cuộc chiến tổng lực, thì các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông thậm chí có lẽ sẽ không còn tồn tại nữa.

Tài liệu của CNAS đã đúng khi cho rằng nhóm đồng minh và đối tác thân cận thứ hai của Mỹ –  Hàn Quốc, Úc và Ấn Độ – sẽ cách biệt hơn, cho dù Washington có thể sẽ gây áp lực buộc họ phải giúp đỡ. Mối quan tâm hàng đầu của Hàn Quốc là bán đảo Triều Tiên.

Sự hỗ trợ tốt nhất mà Úc có thể cung cấp cho Mỹ là cho phép sử dụng căn cứ tại Úc để tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào tàu và máy bay Trung Quốc. Việc giới chức Úc lo ngại rằng thỏa thuận tàu ngầm AUKUS có thể bị đe doạ, nếu như Úc đứng ngoài bất kỳ xung đột nào, là điều dễ hiểu. Nhưng với Canberra, so với việc mua vài chiếc tàu ngầm, tránh được chiến tranh với đối tác thương mại lớn nhất của đất nước chẳng phải quan trọng hơn sao?

Một số người Trung Quốc sẽ lập luận rằng Ấn Độ có thể lợi dụng xung đột Mỹ – Trung tại eo biển Đài Loan để mở rộng yêu sách lãnh thổ dọc theo Đường Kiểm soát Thực tế, nhưng tôi không chắc điều đó sẽ xảy ra. Tôi đồng ý với các tác giả của CNAS rằng Ấn Độ sẽ tập trung vào bảo vệ biên giới đất liền với Trung Quốc.

Tóm lại, rất ít quốc gia muốn can dự vào một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo phân tích của Viện Lowy, 119 quốc gia – 62% số nước thành viên Liên Hợp Quốc – đã tán thành cách diễn đạt mà Bắc Kinh mong muốn, chấp nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan. 89% trong số đó ủng hộ nỗ lực nhằm thống nhất của Bắc Kinh, mà không chỉ rõ những nỗ lực này cần phải diễn ra một cách hòa bình.

Washington sẽ thấy việc gây sức ép buộc đồng minh chọn phe khó khăn hơn họ tưởng, nhất là khi mức độ can dự của riêng Mỹ trông không chắc chắn hơn bao giờ hết. Elbridge Colby, một người lâu nay có lập trường cứng rắn với Trung Quốc, đã viết trên tờ The Wall Street Journal hồi tháng 9 năm ngoái rằng Đài Loan “bản thân nó không mang tầm quan trọng sống còn với nước Mỹ.”

Nếu quan điểm của Colby, hiện là thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ phụ trách chính sách, có thể “mềm mỏng đi đáng kể” như Thượng nghị sĩ Roger Wicker đã nói trong phiên điều trần phê chuẩn, thì điều đó cho thấy manh mối về hướng đi sắp tới. Tổng thống Mỹ Donald Trump hiếm khi bỏ lỡ cơ hội bày tỏ quan điểm, nhưng đến nay ông vẫn chưa nói nhiều về vấn đề Đài Loan. Liệu ông có đang im lặng để chờ đợi một cơ hội đi đến thỏa thuận? Sự im lặng ấy còn hơn muôn vàn lời.

Đại tá Chu Ba (đã nghỉ hưu) là Nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, Đại học Thanh Hoa và là chuyên gia của Diễn đàn Trung Quốc. Ông từng là Giám đốc Trung tâm Hợp tác An ninh thuộc Văn phòng Hợp tác Quân sự Quốc tế, Bộ Quốc phòng Trung Quốc.

Nguồn: Nghiên Cứu Quốc Tế

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Nên hiểu thế nào về quy chế tỵ nạn của Lê Chí Thành

Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã lên tiếng về trường hợp của (Lê Chí) Thành, trong văn bản của mình, họ khẳng định quan điểm “Không ai nên bị trả về một quốc gia nơi họ đang đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù vì lên tiếng tố cáo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ đều vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) trực thuộc chính phủ chuyển sang đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương đảng. Ảnh: Công nghệ Số & Truyền thông

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phép thử bước ngoặt cho khoa học Việt Nam

Đây không còn là vấn đề điều chỉnh cơ cấu, mà là một bước ngoặt xác định lại vị thế của VAST (Viện Hàn lâm KH&CN): Tiếp tục là một trụ cột không thể thay thế của hệ thống khoa học quốc gia, hay dần bị phân rã và hòa vào các cấu trúc khác. Nói cách khác, phía trước không chỉ là thách thức cải tổ, mà là phép thử trực tiếp đối với lý do tồn tại của Viện Hàn lâm KH&CN.