Ông Đỗ Mười đã lãnh đạo Việt Nam ra sao?

Cựu Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười vừa từ trần hôm 1/10/2018. Ảnh: Dân Trí
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Người dân tỏ ra thờ ơ hoặc vui mừng trước cái chết của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Tâm lý ghét bỏ, oán hận, mừng rỡ, kể tội đã đan xen trong tâm thức của mỗi con người trong cái xã hội này tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết bởi sự lìa đời của ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang hồi cuối tháng 9 vừa qua.

Những tưởng mọi sự tạm lắng xuống. Nhưng, thông tin ông cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười vừa qua đời lúc 23 giờ 12 phút ngày 1 tháng 10 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lại dấy lên cơn sóng thần của sự căm phẫn trong lòng dân, thậm chí sự phẫn uất đó còn tăng lên gấp bội.

Ông Đỗ Mười là ai?

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình bần cố nông. Trong tiểu sử của ông này quá trình học vấn không được ghi chép. Tuy nhiên, theo ông Vũ Thư Hiên kể trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày thì Đỗ Mười vốn làm nghề hoạn lợn.

Thậm chí, có bản khảo dị chép về người dân quê hương Đỗ Mười mô tả ông này như “thuở nhỏ bẩm chất đần độn, học hành dốt nát, chỉ ham chơi, không thiết việc đến trường, ngày ngày giả vờ ôm cặp ra khỏi nhà là đi lêu lỏng cùng bọn ‘nhân dân tự phát’ nghịch ngợm phá xóm, phá làng. Người trong làng, xã ai ai cũng kiêng mặt Mười. Ngày ngày Đỗ Mười đi khắp xã Đông Mỹ, quê của ông, thổi sáo toe toe, toét toét, rao thiến lợn kiếm ăn.”

Thế rồi, cái được gọi là đảng cộng sản Đông Dương trở thành môi trường phù hợp cho ông này tham gia. Sau sự kiện Cách mạng tháng 8, ông Mười được cất nhắc giữ các vị trí như một lãnh đạo cao cấp trong các hoạt động của cộng sản. Bắt đầu từ năm 1956, Đỗ Mười được cộng sản điều động, sắp xếp giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các hoạt động của chính phủ cho tới chức cao nhất là tổng bí thư liên tiếp hai nhiệm kỳ từ năm 1991 đến 1997.

Di sản tội ác

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương, hiện sống ở Hà Nội, trả lời BBC hồi cuối tháng Chín:

“Một trong hai sự kiện nổi trội liên quan đến ông Đỗ Mười (cùng với việc dự Hội nghị Thành Đô) là chủ trương đánh tư sản miền Nam hay còn gọi là cải tạo công thương nghiệp”.

“Theo như tôi hiểu, ông làm điều này rất hung hăng vì học vấn ít, và cuồng tín cao. Hệ lụy của việc cải tạo công thương nghiệp miền Nam rất bi thảm, khốc liệt, để lại tai họa rất lớn cho dân tộc. Nhưng có vẻ là trong nhiều năm ông Đỗ Mười tự hào về mình đã làm được việc kinh thiên động địa đó. Đến lúc cuối đời, ông không có vẻ gì ăn năn, hối cải về sai lầm của mình cả.”

Đỗ Mười từng tuyên bố trước sân tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày 20/02/1976 vào lúc 10 giờ 15 phút rằng “Giải phóng miền Nam, chúng ta có quyền tịch thu tài sản, trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó. Xe chúng nó ta đi, vợ chúng nó ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ. Còn chúng nó thì ta đày đi lao động khổ sai vùng kinh tế mới vào nơi rừng sâu nước độc. Chúng nó sẽ chết lần mòn…”

Trong bối cảnh chính trị thế giới thay đổi, hệ thống cộng sản tại Liên bang Xô Viết và các nước Đông Âu tan rã diễn ra từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991. Biến cố chính trị này tạo nên một nỗi sợ hãi cho hệ thống lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Đứng trước nguy cơ sụp đổ đó, Hà Nội đã tìm cách chống đỡ bằng việc bám víu vào Trung Cộng.

Trong hai ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990, Hội nghị Thành Đô hay còn gọi là Mật ước Thành Đô được lãnh đạo cao cấp nhất hai đảng Cộng sản ký kết. Phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương đảng Phạm Văn Đồng, và Đỗ Mười. lúc bấy giờ làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên, cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn bị dấu nhẹm, chưa được công bố.

Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt Nam, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà Nội và từ Sài Gòn của cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi chính phủ Hoa Kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ:

“… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng CSVN và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt Nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Quốc để Việt Nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”…

Hệ quả là “16 chữ vàng” ra đời, được nêu trong Tuyên bố chung cấp cao năm 1999: “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan” – được dịch làLáng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai“. Đến năm 2002 lại thêm phương châm “4 tốt”: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt”.

Vì bài viết cũng đã khá dài nên tác giả không thể thống kê hết những sai lầm trầm trọng và có hệ thống của cựu Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười cũng như chế độ cộng sản gây ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam. Hậu quả của một đất nước, một dân tộc mà bị dẫn dắt, bị lãnh đạo bởi một con người như Đỗ Mười đã cho chúng ta thấy được kết quả hàng triệu người dân miền Nam phải ly tán, gia đình tan nát, đất nước dần dần trở thành nhược địa của Trung Cộng.

Portland, OR 3/10/2018
Paulus Lê Sơn

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”