“Quê Tàu”?…

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đầu giờ chiều ngày mồng 1 Tết, mới sấp ngửa chạy từ “Chùa Bà Đanh khổng lồ” Hà Nội về quê Hải Phòng.

Cứ nghĩ đường 5 vắng lắm, như bao lần đầu năm mình tất tả lên lên xuống xuống, nhưng năm nay, có lẽ kinh tế yếu kém, tiền ít ăn dè, nên thiên hạ nhong nhong ra đường đứng hóng, làm đường 5 đông xe, chả kém ngày thường.

Về đến quê, ngỡ ngàng khi nhìn đâu cũng thấy rừng rực đỏ…

Cái sự đỏ cờ quạt, khẩu hiệu biểu ngữ, có nhẽ cũng quen, bởi đất nước mình nó thế, chả phải ngày Lễ Tết, lúc nào cũng băng cờ đầy đường, tạo công ăn việc làm cho khối anh Văn hóa thông tin, Tuyên huấn và cả những cửa hàng cửa hiệu cắt dán, làm băng rôn.

Mình ngỡ ngàng đầu năm, khi về quê hôm nay, là những chiếc đèn lồng đủ loại, từ màu đỏ đến vàng, trang kim óng ánh, cong queo chữ Tàu, treo khắp hè đường, cửa nhà, trong ngõ xóm.

Hỏi ra mới biết, mỗi chiếc đèn lồng như vậy, giá không dưới 100 nghìn đồng và người dân, được “vận động” mua – treo, theo hệ thống.

Quê An Lão mình nghèo, người dân bao đời nay, vẫn sấp mặt xuống đồng chiêm trũng kiếm con cá – mớ rươi và ước mơ thâu đêm, tựu trung lại chỉ đơn giản là phần thịt lợn đụng, ấm chân răng trong 3 ngày Tết.

Ước mơ lớn “đời sống văn hóa tinh thần”, có chăng chỉ vươn đến những buổi háo hức ra sân kho xem xiếc thú, ca nhạc tạp kỹ – bán thuốc dạo và Chương trình phim ảnh lưu động, thành phố chiếu cố cho những vùng sâu xa

Thế mà bây giờ?..

100 nghìn đồng, có thể là không nhiều so với khát khao “nhà mình xinh, quê mình đẹp”, nhưng đó cũng là mớ rau, con cá, cân thịt, chiếc bánh chưng ấm lòng ngày Tết.

Nhưng 100 nghìn là quá rẻ mạt, để hoàn tất việc “đồng hóa văn hóa” xa lạ, với từng người dân quê chân lấm tay bùn, chưa bao giờ biết đến mạng Internet và cũng chưa bao giờ tầm mắt vượt khỏi lũy tre làng, để biết đến khái niệm “bá quyền, bành trướng”…

Và liệu, trong những ngày Tết này, còn bao vùng quê khác, được cố ý hay vô tình châm lửa “đèn lồng”, để mình tự dưng lo về ẩn họa “Phố Tàu”, như ngày đầu năm mới, ở chính quê mình nghèo nàn, heo hút, xa xôi hôm nay?..

Nguồn: Blog Mai Thanh Hải

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.