Quốc hội không ra nghị quyết là rất nhất quán

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đến nay đã tròn 2 tháng kể từ khi Trung Quốc đóng cọc cái giàn khoan 981 vào tim người Việt Nam. Rồi liên tục tiếp theo đó là xây ào ạt căn cứ quân sự tại đảo Gạc Ma, xây “trường học” ở Hoàng Sa, phát hành bản đồ lưỡi bò 10 đoạn, và hàng ngày cho phi cơ tàu chiến quần thảo một vùng biển lớn quanh giàn khoan.

Người dân Việt Nam sôi sục chờ đợi nhà cầm quyền lần này phải có thái độ và hành động đối phó để tỏ rõ lòng cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, đặc biệt khi họ mỗi lần trấn áp người dân biểu tình đều viện lý do “hãy để nhà nước lo”. Sự sôi sục đó đã đụng phải bức tường kinh ngạc về thái độ im lặng hoàn toàn của “tứ trụ”, của Bộ Chính Trị, của Hội nghị Trung Ương Đảng.

Chỉ đến khi có tin Quốc Hội khóa 13 bàn về vấn nạn giàn khoan, người dân mới lại hy vọng “cơ quan quyền lực cao nhất nước” này sẽ làm đúng vai trò đại biểu cho lòng dân. Đặc biệt sau khi có tin Quốc Hội Nhật ra nghị quyết lên án hành động của Bắc Kinh dù vùng biển Hoàng Sa không phải của Nhật thì ai cũng đinh ninh thái độ của Quốc Hội Việt Nam chắc chắn phải khá hơn nhiều.

Nhưng đến ngày tuyên bố bế mạc 24/6/14, sự trông chờ ấy đã biến thành nỗi thất vọng ê chề. Không có một nghị quyết nào về Biển Đông cả, nhưng lại có nghị quyết về “Kéo dài thời hạn đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân”; nghị quyết về “Việc thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”; và nghị quyết về “Chất vấn và trả lời chất vấn”.

Các quan chức quốc hội liền được phân công giải thích vòng vo, chẳng hạn như một cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói: “Quốc hội Việt Nam chưa ra nghị quyết riêng về Biển Đông vì tình hình chưa đặc biệt nghiêm trọng”. Như thế nào mới đủ nghiêm trọng? Chuyện gia hạn thuê đất, tiết kiệm, và chất vấn đủ “đặc biệt nghiêm trọng” và nghiêm trọng hơn chuyện chủ quyền đất nước bị xâm phạm ư?

Càng giải thích vòng vo càng làm dân bực vì loại giải thích đó coi trí óc của dân quá tầm thường. Câu hỏi đầu tiên hiện lên trong đầu nhiều người là: nếu ngồi trong phòng lạnh, ngay tại thủ đô, và chỉ ra nghị quyết, tức là chỉ nói thôi mà giới lãnh đạo hiện nay cũng run rẩy, không dám nói, thì làm sao có cái gọi là “kiên quyết bảo vệ tổ quốc” chống lại hải quân Trung Cộng ở tận ngoài khơi xa xăm? Sự giả dối và hèn nhát chưa bao giờ hiện rõ tới như vậy.

Nhưng ngược lại, cũng có người ráng nhìn theo hướng lạc quan. Ít là lần này Quốc Hội còn được bàn đến chuyện Biển Đông. Nhiều người còn nhớ khi ông Nguyễn Phú Trọng còn làm chủ tịch Quốc Hội, chuyện Biển Đông luôn bị gạt ra khỏi nghị trình với lý do: “Không có diễn biến gì mới ở Biển Đông”. Trong lúc ấy, hết tàu cá này đến ngư dân Việt khác bị “tàu lạ” đâm, bắt, đánh, bắn, và giết không khác gì hiện nay.

Xét cho cùng, trách riêng Quốc Hội cũng không mấy công bằng vì toàn bộ cơ chế của đảng CSVN đều như thế cả:

Thứ nhất, khác với Quốc hội Nhật hay Quốc hội Phi, các đại biểu do nhân dân nước họ bầu lên nên khi Trung Quốc đụng đến, họ đều phản ứng quyết liệt và ra nghị quyết thể hiện quyết tâm của đại đa số cử tri. Quốc hội Việt Nam ngay trong định nghĩa đã là cây kiểng trang trí của đảng CSVN, với hầu hết các đại biểu là đảng viên CSVN và một số rất ít còn lại cũng phải do đảng đề cử. Và khi chủ quyền bị công khai lấn chiếm như hiện nay mà từ Tổng bí thư đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, và toàn thể Bộ chính trị đều không dám lên tiếng, hoặc chỉ thầm thì vài câu bá vơ với vài tổ dân phố, thì ai tại Quốc hội dám ra nghị quyết?

Thứ hai, chỉ có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bạo miệng được một câu tại Philippines rằng: “…nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” mà sau đó phải mất biết bao nhiêu quan chức và trang mạng của nhà nước chạy theo để ráng xóa nhòa đi, gỡ gạc lại, và ráng bày tỏ lòng hối hận đã lỡ nói như thế. Thật vậy, trang điện tử của chính phủ đã đăng liền bài thương tiếc “chén nước đầy tình nghĩa bị đổ đi”; Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (tức Văn phòng Thủ tướng) Nguyễn Văn Nên ráng gỡ gạc lại giùm sếp: Việt, Trung “vẫn có thể ngồi lại với nhau được”, v.v… Rồi khi Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì sang Việt Nam, đích thân Nguyễn Tấn Dũng phải xin “làm lành”, phải bắt báo đài đăng hình ôm hôn thắm thiết Dương Khiết Trì, đúng với hình ảnh “đứa con hoang đàng trở về nhà”. Nếu Nguyễn Tấn Dũng lỡ lời mà đã phiền đến thế, thì làm sao để cho Quốc hội bạo miệng được?

Thứ ba, sự ngần ngại, sợ hãi trong nội bộ lãnh đạo đảng CSVN càng gia tăng sau khi Bắc Kinh ra chỉ thị “BỐN KHÔNG ĐƯỢC” vào ngày 17/6/2014, tức một ngày trước khi họ Dương đến Việt Nam, bao gồm:

1.Không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông). 2.Không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận ở Việt Nam về chủ quyền Trung Quốc ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa). 3.Không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải (Biển Đông). 4.Không được phá bỏ mối quan hệ Việt Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ.

Liền sau chỉ thị Bốn Không Được này, lãnh đạo đảng đã cho hàng ngũ đảng viên học tập gấp rút để quán triệt quan điểm: Chống Tàu là thua; Phải biết sợ Tàu thì mới sống còn; Nhất quyết không để xung đột xảy ra v.v… Thế thì làm sao Quốc hội được phép tỏ thái độ “không sợ Tàu” hay “hỗn với Tàu” qua một nghị quyết chính thức được?

Thứ tư, khi chính ông Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, người đứng đầu quân đội của một nước, mặc quân phục, đeo hàm tướng và huy chương đầy ngực, đã làm tấm gương lớn về lòng sợ hãi ngay giữa hội nghị quốc tế Shangri-la ở Singapore với lời ca ngợi “quan hệ đôi bên vẫn tốt đẹp” sau vài chuyện lục đục nhỏ trong gia đình, thì bảo sao các bộ trưởng và các ủy viên trung ương không-quân-sự khác lại không sợ xanh mặt khi nhắc tới Bắc Kinh? Và tất cả các bộ trưởng, các ủy viên Trung ương đảng đó đều là đại biểu quốc hội cả, thì quốc hội kiếm đâu ra ai có gan để bỏ phiếu cho nghị quyết?

***

Dĩ nhiên, lãnh đạo đảng biết là dân biết đảng đang sợ. Lãnh đạo đảng rất nhạy cảm về mặt này và nhất quyết không để dân vì thấy lãnh đạo đang sợ Tàu mà nhân thể lấn tới.

Nên để bù lại, các cấp cai trị từ lãnh đạo trung ương xuống đến cậu công an phường trong thời gian gần đây đều gia tăng mức độ hằn học, nỗ lực tích cực chứng minh hàng ngày rằng ĐẢNG CHỈ SỢ TRUNG QUỐC CHỨ QUYẾT KHÔNG SỢ DÂN — quyết không để dù chỉ một người dân ra đường lớn tiếng phản đối Trung Cộng xâm lược.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.