Sao phải ép dân phải đổi xe?

Hà Nội có hơn 6 triệu xe máy. Ảnh: Báo Dân Sinh
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thùy Linh

Môi trường sạch là chuyện nên hướng tới trong tương lai,  nhưng chén cơm, sự tiện lợi hay “giờ vàng” của người bệnh lại là câu chuyện sát sườn của ngày hôm nay.

Kể từ ngày 1/7/2026 toàn bộ các loại xe máy công nghệ sử dụng nhiên liệu hoá thạch (xăng, dầu) sẽ không được hoạt động. Xe mô tô, gắn máy cá nhân không kinh doanh trên nền tảng công nghệ bị cấm lưu thông từ 18 – 24 giờ ngày thứ sáu, từ 6 – 24 giờ ngày thứ bảy và chủ nhật ở 11 tuyến đường trung tâm Hà Nội.

Lộ trình thực hiện đã được đưa ra, tuy nhiên, theo khảo sát, tại 9 phường thuộc vành đai 1 có 450.000 xe máy, trong đó xe máy sử dụng xăng chiếm tỷ lệ 94 – 97%, còn xe máy điện chỉ chiếm 3 – 6%.

Cấm xe máy: Làm khó người lao động?

Hà Nội là thành phố có số lượng dân cư đông xếp thứ 2 (khoảng trên 8 triệu dân) ở Việt Nam, chỉ sau TP.HCM. Số lượng lao động trong độ tuổi của Hà Nội cũng tăng theo dân số. Theo Sở Nội vụ Hà Nội, đến ngày 15/11/2025, Thành phố đã giải quyết việc làm cho 207.493 lao động, vượt hơn 22% kế hoạch năm.

Để có được những con số tăng trưởng ấn tượng, không chỉ cần nhờ vào sự siêng năng, chịu khó làm việc của người dân Hà Nội mà phương tiện đi lại cũng đóng góp một vai trò quan trọng không kém. Nếu đại bộ phận lực lượng lao động này vẫn sử dụng xe máy xăng thì việc áp dụng lộ trình cấm xe máy công nghệ chạy xăng và hạn chế xe cá nhân theo giờ  đang vô tình làm khó người dân nói chung cũng như người lao động nói riêng.

Thêm vào đó, nếu xe điện là phương tiện thay thế hoàn hảo (không phát thải trực tiếp, không tiếng ồn, chi phí vận hành thấp…) thì tại sao lệnh cấm xe đã cận kề, người dân vẫn không mặn mà phương tiện xanh này?

Như lời một nhắc nhở cẩn trọng tránh “gậy ông đập lưng ông,” dưới góc nhìn của một người lao động, theo chị P. thì: “Nếu buộc thì phải tuân thủ, khó khăn, bất tiện hay không cố gắng được thì bỏ. Một người bỏ thì không sao, nhiều người bỏ sẽ tạo ra một bức tranh hoàn toàn khác, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế.

Tác động không dừng lại ở đó

Cấm xe máy xăng không chỉ tác động đến người lao động mà còn ảnh hưởng đến những người dân khác, đặc biệt là những người yếu thế. Đơn cử, một người lớn tuổi ngại những chiếc xe cồng kềnh, tay ga, họ chọn chiếc Cub hay Chaly nhẹ nhàng để tự đi khám bệnh, đi mua đồ ăn sáng hoặc đi một vòng trên đường thăm bà con. Việc bắt họ phải làm quen với một chiếc xe điện cùng những rủi ro về pin, chẳng khác gì buộc họ phải tự “chặt đi đôi chân,” giam mình trong bốn bức tường.

Đó là chưa kể đến với những ngày mưa, xe máy xăng vẫn có thể “lội” qua các con phố trũng, ngập nước để đưa trẻ đến trường hay đưa người già đi cấp cứu. Còn xe điện, “băng” qua trong sự hồi hộp. Khi chính quyền chưa thể đưa ra phương án thay thế có độ tiện dụng như xe xăng thì lệnh cấm (hay hạn chế) vô tình đẩy người dân vào thế phải lựa chọn giữa việc tuân thủ chính sách hay đặt tính tiện lợi của gia đình lên hàng đầu.

Đặt câu hỏi về tính tiện lợi này, chị Ngọc chia sẻ: “Thí dụ như nhà tôi chưa có tiền mua xe điện mà khoảng 10 giờ tối ngày chủ nhật người nhà tôi cần đi cấp cứu thì sao? Chờ xe cấp cứu tới thì sốt ruột, gọi taxi thì nghe chở đi cấp cứu họ không tới, lúc đó chẳng phải chỉ biết trông chờ vào xe xăng thôi sao? Rồi đi sai quy định, bị phạt luôn à, dù đó là liên quan đến tính mạng con người?”

Có thể thấy, khi chiếc xe máy không chỉ là phương tiện mưu sinh mà còn là “đôi chân” của những người già, là phương tiện cấp cứu trong những đêm ngặt nghèo thì dường như hành động cấm (hoặc hạn chế) phương tiện khi người dân chưa sẵn sàng là có phần vô cảm. Môi trường sạch là chuyện nên hướng tới trong tương lai,  nhưng chén cơm, sự tiện lợi hay “giờ vàng” của người bệnh lại là câu chuyện sát sườn của ngày hôm nay.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”