Sau 20 tháng đại dịch, Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc dạy và học online

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát động chương trình nhằm nâng cao năng lực dạy và học trực tuyến, 12/9/2021. Ảnh chụp Vietnamplus
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chưa đầy 10 ngày sau lễ khai giảng năm học 2021-2022, nhiều thày cô và học sinh Việt Nam đối mặt với thực tế là hạ tầng và thiết bị từ cấp độ nhà nước cho đến cá nhân đều không sẵn sàng cho việc dạy và học trực tuyến.

Do đại dịch COVID-19 vẫn làm nhiều người lây nhiễm và tử vong, nhất là trong 4 tháng rưỡi qua, hôm 5/9, hơn 23 triệu học sinh Việt Nam bước vào niên khóa 2021-2022 được gọi là “một năm học đặc biệt” trên báo chí trong nước, vì có 26 trên 63 tỉnh, thành phố mà ở đó học sinh phải học tập trên không gian mạng hoặc qua đường truyền video.

Ước tính, có khoảng 7,35 triệu học sinh các cấp học trực tuyến hoàn toàn, các báo Việt Nam cho biết.

Một tuần sau ngày khai giảng, hôm 12/9, nhiều báo dẫn lại kết quả một cuộc khảo sát nhanh của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ ra các khó khăn cơ bản trong việc dạy và học trực tuyến, đó là hệ thống đường truyền internet hạn chế dung lượng, phần mềm dạy học miễn phí chất lượng không tốt, nhiều học sinh thiếu trang thiết bị học tập.

Theo khảo sát, có tới 1,5 triệu học sinh ở 26 địa phương không có thiết bị học trực tuyến, chủ yếu là máy tính.

Khó khăn này không chỉ ở vùng sâu, vùng xa mà ngay cả ở thành phố lớn, khảo sát cho hay. Thày giáo Đỗ Việt Khoa ở Thường Tín, ngoại thành thủ đô Hà Nội, cho VOA biết thêm:

“Thành phố cũng khó, nông thôn càng khó, miền núi thì khó khăn không thể tưởng tượng nổi. Như vùng chúng tôi, thị trấn Thường Tín, các em học sinh có khó khăn là không mua được webcam vì không có công ty máy tính nào được phép hoạt động mấy tháng nay. Nhiều em không có micro để nói. Mạng thì yếu, chậm lắm. Rồi đồng loạt cả nước dùng phần mềm Zoom để dạy-học nên các buổi sáng nó nghẽn mạng không vào được.”

Vào tối 12/9, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính phát động chương trình “Sóng và Máy tính cho em” hướng tới mục tiêu 100% trường học, giáo viên, học sinh, sinh viên được trang bị đầy đủ về hạ tầng, nền tảng, máy tính và các phương tiện khác phục vụ cho việc dạy và học trực tuyến.

Trang Facebook chính thức của chính phủ Việt Nam cho biết trong giai đoạn 1 của chương trình, thực hiện trong phần còn lại của năm 2021, Bộ Thông tin và Truyền thông cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến huy động 1 triệu máy tính cho học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo trên toàn quốc; trước mắt ưu tiên cho các địa phương đang thực hiện lệnh giãn cách ở cấp độ cao nhất và đang áp dụng học trực tuyến.

Trong giai đoạn 2, từ năm 2022-2023, nhà chức trách Việt Nam tiếp tục chương trình, hướng tới mục tiêu 100% học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo trên toàn quốc được trang bị máy tính để có thể thực hiện học trực tuyến.

Thày Đỗ Việt Khoa, người nổi tiếng về chống tiêu cực trong ngành giáo dục, bình luận với VOA rằng việc tung ra chương trình kể trên vào thời điểm này, sau khi năm học đã bắt đầu, có tác dụng “gỡ phần nào” nhưng đáng lẽ ra công tác chuẩn bị phải được làm từ sớm hơn rất nhiều. Ông nói thêm:

“Mấy ông Việt Nam ta lại rất khoái xây tượng đài từ nhiều năm nay, hàng nghìn tỉ cũng sẵn sàng xây. Nhưng bệnh viện để cứu dân thì không ông nào sẵn sàng bỏ tiền ra xây cả. Đến lúc dịch bệnh xảy ra mới ngã ngửa ra là hệ thống bệnh viện quá thiếu thốn. Cơ sở vật chất trường lớp cũng rất thiếu. Vô số các bất cập. Thế nhưng tượng đài thì các vị ấy sẵn sàng bỏ ra xây.”

Thày Khoa cho rằng vấn đề cần sửa chữa là “ý thức và suy nghĩ của lãnh đạo,” nhưng điều này không hề dễ thực hiện.

Nguồn: VOA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”