Một ngày trước khi mở phiên tòa trò hề ở Huế, để xử án Linh Mục nguyễn Văn Lý và một số nhà dân chủ, chế độ Cộng sản Việt Nam đồng loạt tung ra bài tấn công Đảng Việt Tân trên hầu hết báo chí và các đài phát thanh, phát hình của họ. Trong đó, có bài viết nhan đề “Những kẻ khủng bố núp dưới chiêu bài dân chủ”, của thông tấn xã cộng sản Việt Nam, phân tích hoạt động của đảng Việt Tân và liệt tổ chức này vào danh sách khủng bố.
Điều vừa buồn cười, vừa khó hiểu là, tuy dán nhãn cho Việt Tân là khủng bố, nhưng những hoạt động của Đảng Việt Tân được thuật lại trong bài báo lại không hề liên hệ gì đến giết chóc, làm thương tật, tra tấn, đe dọa, hay bất kỳ hành động nào khả dĩ khiến người dân phải sợ hãi — nếu theo đúng định nghĩa của từ “khủng bố”. Câu hỏi còn lại là, nếu người dân không có lý do gì để sợ đảng Việt Tân, thì Ai thực sự lo sợ về Việt Tân, và tại sao?


Trước hết, bên ngoài Việt Nam, người ta đều biết, Hoa Kỳ là nước cầm đầu trong cuộc chiến chống khủng bố hiện nay. Tất cả những quốc gia tiên tiến có cộng đồng người Việt hải ngoại sinh sống, đều là đồng minh của Hoa Kỳ trong cuộc chiến này. Hầu hết, nếu không nói là tất cả, những quốc gia đó đều có cơ sở đảng Việt Tân hoạt động công khai. Thế nhưng chẳng những các chính phủ chống khủng bố đó không đụng chạm gì đến Việt Tân, mà ngược lại, họ vẫn thường ủng hộ những chiến dịch vận động của Việt Tân, để tạo sức ép thường xuyên về nhân quyền, dân quyền lên đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, về mặt chính thức, Cộng Sản Việt Nam và Hoa Kỳ đã và đang cam kết hợp tác nỗ lực trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Nếu Việt Tân là tổ chức khủng bố như bài báo của thông tấn xã cộng sản Việt Nam vu cáo, thì đảng Việt Tân đã chẳng thể nào tồn tại được ở các quốc gia tây phương. Nhất là tại Hoa Kỳ.
Kế đến, bên trong đất nước Việt Nam, người dân không hề thấy, và chính báo chí của Ðảng CSVN cũng không trưng ra nổi một bằng chứng nào về một hoạt động mang tính khủng bố của Việt Tân. Ngược lại, hàng triệu nhân chứng vẫn còn sống, có thể kể lại rành rẽ những vụ bắt cóc, đắp mô, đặt mìn xa lộ, ném lựu đạn, gài bom, pháo kích bừa bãi vào thành phố, và vô số hành động giết dân chúng vô tội theo lệnh các lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam trong thời chiến tại miền Nam. Cụ thể nhất là xin hỏi hàng chục ngàn thân nhân các đồng bào bị đảng CSVN chôn sống tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968. Hay của thân nhân hơn 60 ngàn người bị giết chết, trả thù một cách man rợ, ngay sau khi bộ đội của đảng tiến vào các địa phương miền nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa xuân năm 1975.

Và khi chiếm trọn cả nước, tình hình cai trị bằng sợ hãi càng dâng cao với đủ loại chiến dịch tiêu diệt: từ tư sản mại bản đến tư sản dân tộc, đến tiểu thương, đến người Việt gốc Hoa; với đủ loại nhà tù: từ các trại cải tạo dấu kín trong rừng sâu, đến các trại giam nhiều cấp ngay giữa thành phố, đến những khu đày ải mang danh “kinh tế mới”.
Ngày nay, sau hơn 30 năm, người dân vẫn còn phải sợ những nghị định, như nghị định 31/CP, nối tiếp sự khủng bố từ thời Hồ Chí Minh (*), vẫn phải sợ từ những tên công an lưu thông ở từng góc đường có thể sừng sộ đòi tiền bất cứ lúc nào, đến những giấy triệu tập « lên đồn làm việc » một cách vô cớ, đến những tên công an ngang nhiên bịt miệng các bị cáo ngay giữa các phiên tòa xử công khai của chế độ.

Ðối chiếu với bản chất hung hãn, bạo ngược ấy của chế độ, thì những hoạt động của Việt Tân, được trưng ra trong bài báo của Việt Nam thông tấn xã, mà đảng CSVN dán nhãn khủng bố là: “Xây dựng các Văn phòng luật sư, các chương trình tín dụng vĩ mô, các công ty kinh doanh ở trong nước để tạo kinh tài, và vỏ bọc hoạt động cho cơ sở trong nước; Chỉ đạo số cơ sở ngầm, để kích động quần chúng nhân dân đối đầu với Nhà nước Việt Nam, nhằm tạo ra làn sóng quần chúng khiếu kiện khắp nơi trong cả nước; Thành lập những bộ phận đấu tranh cho quyền “tự do ngôn luận”, “tự do lập hội”, như “Hội nhà báo tự do”, “Hội bảo vệ ký giả”, “Nhóm ái hữu công nhân Việt Nam”, “Hội dân oan”, “Công đoàn độc lập”…hay thu thập tài liệu gửi các tổ chức NGO, báo chí quốc tế lên tiếng gây áp lực, tố cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền .v.v…..”. Hóa ra đó là những nỗ lực để khai triển một xã hội dân sự, có khả năng tồn tại và hoạt động bên ngoài vòng kiểm soát của đảng CSVN, một môi trường vô cùng độc hại cho mọi loại độc tài, nhưng lại là nền tảng vững chắc để xây dựng cơ chế dân chủ lâu dài cho đất nước. Ðây mới là điều mà đảng và nhà nước CSVN lo sợ vì họ biết rõ tiến trình tương tự đã diễn ra tại Ðông Âu vào cuối thế kỷ trước, và tại một số nước thuộc Liên Xô cũ trong những năm gần đây.

Hơn thế nữa, từ hơn hai thập niên qua, trên các báo, các đài, và trong cả các tài liệu học tập cho cán bộ, đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định vô số lần rằng: Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, tức tiền thân của Đảng Việt Tân, đã bị tan rã, bị xóa tên, bị các lực lương an ninh cộng sản Việt Nam tiêu diệt v.v… Nhưng cứ sau mỗi đợt khẳng định như vậy, đảng lại tiếp tục báo động phải coi chừng Việt Tân, từ những loạt bài cay cú trên báo Lao Động vào tháng 10 năm 1993, để báo động về tác động tuyên vận của Đài phát thanh Chân Trời Mới; đến những cái gọi là « tài liệu lưu hành nội bộ », như tài liệu ngày 20-3-1994 của Ban Tư Tưởng Văn Hoá Đảng , nhan đề « Hoạt Động của một số thế lực thù địch và chống đối », liệt kê những hoạt động mà tài liệu này gọi là « cực kỳ phản động » của Việt Tân. Để sau đó mở chiến dịch bắt toàn quân học tập về ba kẻ thù hung hiểm nhất, mà đảng Việt Tân là một, từ tháng tư đến tháng 6 năm 1994. Và các báo động đó cứ ròng rã suốt từ đó đến nay, mà cao điểm là những bài báo trong mấy ngày qua, thừa nhận các hoạt động đấu tranh bất bạo động của Việt Tân đã lan ra khắp nước.

Hiện tượng này dẫn đến một nhận xét trực tiếp là, những khẳng định của chế độ đã tiêu diệt đảng Việt Tân càng được lập lại nhiều lần, thì càng tô đậm một thực tế là chế độ không hề có khả năng đó. Chẳng phải vì đảng Việt Tân thần thánh gì, mà chỉ vì những gì đảng Việt Tân đang nỗ lực vận động, chính là những điều mà càng ngày càng có thêm nhiều người Việt Nam đồng ý, ủng hộ, và tham gia. Cốt lõi ở đây là cuộc vận động mọi người Việt Nam hãy cùng nhau, và cùng lúc rút lại sự thừa nhận, và chấp hành những uy quyền của một chế độ, vốn chỉ coi nhân dân là công cụ, và là ghế ngồi cai trị. Thiểu số nắm quyền tiếp tục che mắt toàn dân về sự tụt hậu của đất nước so với thế giới chung quanh bằng việc bán dầu khí, đất đai, và mọi loại tài nguyên có thể bán được, để vừa bỏ vào túi riêng một phần lớn, vừa đem về những phương tiện ăn chơi hào nhoáng như những biểu hiện về sự “văn minh” của cả nước. Hầu hết các công trình lớn xây dựng hạ tầng đều do tiền viện trợ nhân đạo, hay vay mượn từ nước ngoài, mà các thế hệ con cháu Việt Nam sau này phải nai lưng ra trả nợ. Ðảng CSVN thừa hiểu rằng, không kể đến món tiền khổng lồ 4, 5 tỷ đô la của người Việt hải ngoại gửi về hàng năm, như là một món viện trợ vô điều kiện, mà không một định chế quốc tế hay quốc gia nào cung cấp được, thì chỉ cần số thu nhập và trợ giúp hiện có, bất kỳ một chính phủ dân chủ nào khác tại các nước xung quanh, như Mã Lai, Thái Lan, Phi Líp Pin, Nam Hàn, v.v… đều đã đưa đất nước và mức sống trung bình của dân họ lên cao hơn rất nhiều. … Ðây mới là điều mà những kẻ cầm quyền đang lo sợ.

Với những phân tích trên, và trở lại với ý nghĩa của từ “khủng bố”, có phải đảng CSVN đang định nghĩa rằng, cứ kẻ nào làm người khác lo sợ thì kẻ đó là khủng bố chăng? Và như vậy, có phải vì Việt Tân đã và đang làm những điều, khiến người cầm quyền hiện nay lo sợ, nên Việt Tân là khủng bố chăng? Vẫn không đúng. Vì xét cho cùng thì những kẻ đang cai trị đất nước không sợ Việt Tân, họ chỉ sợ cái ngày toàn dân nhìn rõ ra sự thật khó chối cãi nêu trên, về cả khả năng lẫn tâm địa của họ. Và nay, càng ngày càng có nhiều người, kể cả một số nhân sự trong guồng máy chế độ, đang cùng với đảng Việt Tân vạch ra điều đó và đề nghị một con đường khác đi lên cho dân tộc.
Nếu nhìn kỹ vào cái góc tối tăm đang phát ra những câu tố cáo Việt Tân khủng bố, người ta có thể thấy chen chúc một nhóm người nhầy nhụa và bệnh hoạn, vừa la hoảng vừa đùn đạp lẫn nhau để chui sâu hơn vào góc tối, vì quá sợ ánh mặt trời đang ngày càng tỏa sáng, mà họ không sao cưỡng lại được.
Ghi chú: (*) Dưới triều đại ông Hồ Chí Minh, một quyết định của Bộ Chính Trị đã được «chính quyền hóa» bằng nghị định số 49/NQ/TVQH, ngày 20-6-61, do ông Trường Chinh, lúc đó là chủ tịch quốc hội ký. Nghị định này cho phép bắt giam công dân (mà không cần xét xử của tòa án) vào trại tập trung (được gọi là ’trại cải tạo’) trong thời hạn 3 năm, và khi hết hạn 3 năm đó, chính quyền có thể gia hạn, và cứ thế kéo dài vô thời hạn.



