So sánh giữa chế độ thần quyền Iran và chế độ Cộng sản Việt Nam

Ảnh minh họa: Lãnh tụ tối cao Iran Mojtaba Khamenei (trái) và Tổng Bí thư ĐCSVN Tô Lâm
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

KS Nguyễn Ngọc Bảo

Dưới đây là phân tích khách quan, dựa trên đặc điểm cấu trúc quyền lực, ý thức hệ, kinh tế – xã hội và cách thức vận hành thực tế của hai chế độ, chế độ thần quyền Iran và chế độ độc tài đảng trị CSVN.

I. Điểm chung

Cả hai chế độ đều thuộc loại chế độ độc tài hiện đại và có nhiều đặc điểm giống nhau:

1. Quyền lực tập trung cao độ

– Iran: Lãnh tụ tối cao (Supreme leader) nắm quyền tuyệt đối.

– Việt Nam: Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là trung tâm quyền lực thực tế (dù trên danh nghĩa là “lãnh đạo tập thể”).

2. Kiểm soát toàn diện xã hội và nhà nước

– Cả hai đều kiểm soát chặt chẽ hệ thống tư pháp, lập pháp, truyền thông, giáo dục, văn hóa, xã hội dân sự và lực lượng vũ trang.

– Sử dụng bộ máy an ninh – tình báo mạnh (IRGC + Basij ở Iran; công an, quân đội và các lực lượng dân quân tự vệ ở Việt Nam).

3. Tham nhũng hệ thống và tài sản bất chính của giới lãnh đạo

– Cả hai đều tồn tại “đế chế kinh tế” của giới tinh hoa (bonyad và Setad ở Iran; các tập đoàn nhà nước, doanh nghiệp sân sau các lãnh đạo đảng CS ở Việt Nam).

– Lãnh đạo và người thân cận thường kiểm soát khối tài sản khổng lồ qua cơ chế đặc quyền.

4. Tuyên truyền và kiểm soát tư tưởng

– Sử dụng hệ tư tưởng chính thức để hợp thức hóa quyền lực (Hồi giáo Shia ở Iran; chủ nghĩa Marx-Lenin + tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam).

– Đàn áp mạnh các tiếng nói đối lập, biểu tình và truyền thông độc lập.

5. Chính sách đối ngoại chống Hoa Kỳ và phương Tây

– Cả hai đều coi Hoa Kỳ là kẻ thù chính, đồng thời tìm cách liên minh hoặc hợp tác với Nga và Trung Quốc để cân bằng.

6. Sử dụng lực lượng vũ trang làm công cụ chính trị

– Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC ) ở Iran và Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ở Việt Nam đều có vai trò kép: Bảo vệ chế độ và tham gia kinh tế.

II. Điểm khác biệt

Lãnh vực

Iran (thần quyền)

Việt Nam (độc đảng Cộng sản)

Mức độ tham nhũng (CPI)

Rất cao (23/100), gần như không cải thiện

Cao nhưng thấp hơn Iran (41/100), có xu hướng cải thiện nhẹ

Hình thức tham nhũng chính

Đạo tặc (kleptocracy*) tập trung: Lãnh tụ tối cao và IRGC kiểm soát bonyad/Setad, tịch thu tài sản, bán dầu bóng tối

Tham nhũng phân tán + tập trung: Thất thoát qua FDI, DNNN, dự án đầu tư công, “sân sau” quan chức, cướp đoạt tài sản của người khác

Quy mô tài sản giới tinh hoa

Khổng lồ, công khai hơn (Setad kiểm soát hàng chục phần trăm (%) nền kinh tế)

Rất lớn nhưng được che giấu kỹ hơn, chủ yếu qua người thân và các công ty bình phong

Chiến dịch chống tham nhũng

Hiếm, mang tính hình thức hoặc thanh trừng phe phái; lãnh đạo tối cao ít bị động đến

Mạnh mẽ (“đốt lò” dưới thời Nguyễn Phú Trọng): xử lý nhiều quan chức cấp cao (Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh…), thu hồi tài sản. Mục tiêu triệt hạ đối thủ chính trị

Tính minh bạch và xử lý

Thấp, ít công khai chi tiết

Cao hơn tương đối: Xét xử một số vụ lớn, thu hồi tài sản, nhằm răn đe phe đối thủ

Liên quan tôn giáo/ quyền lực

Tham nhũng gắn với tôn giáo (bonyad “từ thiện” dưới quyền lãnh tụ)

Tham nhũng gắn với ý thức hệ và quyền lực đảng, ít màu sắc tôn giáo

Tác động đến dân chúng

Gây khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, biểu tình thường xuyên

Gây bất mãn sâu rộng vì bất công xã hội, sách nhiễu người dân, luật lệ tùy tiện nhưng kinh tế vẫn tăng trưởng nhờ hội nhập quốc tế

*) Kleptocracy là một hình thức chính phủ trong đó các nhà lãnh đạo, hay những kẻ tham nhũng, lạm dụng quyền lực để chiếm đoạt tài nguyên nhà nước và tài sản cá nhân của người dân, thường rửa tiền thông qua các tài khoản ở nước ngoài và bất động sản nước ngoài.

III. Tóm tắt

Điểm chung chủ yếu nằm ở cơ chế độc tài, kiểm soát chặt chẽ xã hội, tham nhũng có hệ thống và chống phương Tây. Cả hai đều là những chế độ phi dân chủ, sử dụng bộ máy nhà nước để thu tóm công quỹ, duy trì quyền lực của một nhóm tinh hoa.

Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở nguồn gốc hợp thức hóa quyền lực:

– Iran là thần quyền (quyền lực xuất phát từ thượng đế qua Lãnh tụ tối cao).

– Việt Nam là ý thức hệ chính trị (quyền lực xuất phát từ đảng Cộng sản, được coi/tự phong là “người đại diện chân chính của giai cấp công nhân và nhân dân”(sic)).

Vì vậy, cách thức đàn áp, tuyên truyền và thích ứng với thế giới bên ngoài của hai chế độ có sự khác biệt khá rõ: Iran cứng nhắc và mang tính tôn giáo hơn, trong khi Việt Nam linh hoạt và thực dụng hơn về kinh tế – đối ngoại, che dấu các thủ đoạn đánh lừa dư luận thế giới, đàn áp người dân.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng tăng vốn 42% trong khi dự án đường sắt East Coast Rail Link (ECRL) ở Malaysia giảm giá 32% sau khi thương lượng lại với phía Trung Quốc

Malasia giảm giá 32%, Việt Nam tăng vốn 42%: Hai đường ray, hai năng lực mặc cả với Trung Quốc?

Trong những dự án hạ tầng khổng lồ, năng lực quốc gia không chỉ được đo bằng khả năng huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng hay bằng tốc độ “quyết liệt triển khai.” Đôi khi, năng lực quản trị thể hiện ở điều ngược lại: Biết dừng đúng lúc, kiểm tra lại một quyết định và đủ sức buộc đối tác trở lại bàn thương lượng.

Đó là bài học đáng chú ý nhất từ Malaysia.

Created with AI

2 tháng 9, nhìn từ Phòng Xuất cảnh

Hôm nay là “ngày 2 tháng 9,” ngày Quốc khánh(!)

Ngoài phố, cờ đỏ rợp trời. Biểu ngữ giăng ngang những đại lộ. Sân khấu sáng choang…

Tám mươi mốt năm độc lập. Một chặng đường đủ dài để một đứa trẻ sinh ra năm ấy đã thành một cụ già. Nhưng hôm nay, tôi không muốn đứng giữa quảng trường để nhìn ngày Quốc khánh. Tôi muốn thử đứng ở một nơi khác. Nơi đó là Phòng Xuất cảnh.

Ảnh minh họa: Encyclopædia Britannica.Inc

Đông Nam Á trước vấn đề “Một Trung Quốc”

Các chính phủ Đông Nam Á tin rằng họ có thể tách bạch việc thỏa hiệp với Bắc Kinh về Đài Loan với việc tiếp tục phản đối các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Tuy nhiên, thói quen coi các yêu cầu của Trung Quốc là “không tốn kém” khi chúng liên quan đến những vấn đề không trực tiếp chạm tới lợi ích quốc gia của mình sẽ mang lại rủi ro dài hạn.

Ảnh minh họa: Tuyên ngôn Độc lập 4/7/1776 (trái) và 2/9/1945

Chính trị và ngụy trị – từ hai bản tuyên ngôn

Hai bản tuyên ngôn cách nhau 169 năm. Cùng xuất phát từ thân phận thuộc địa. Cùng viện dẫn tự do và độc lập như lý tưởng tối thượng. Nhưng dòng chảy lịch sử đã chứng minh: Một bản gìn giữ quyền con người, một bản tận diệt chính những quyền nó vừa viện dẫn để tuyên xưng. Sự khác biệt không nằm ở lời mở đầu hoa mỹ. Nó nằm ở cam kết và trao quyền thay đổi, lật đổ chính quyền cho người dân.