Tất Cả Vì Tự Do

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

30/4/1975 là ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, có thể xem là cuộc chiến ý thức hệ, kéo dài gần 20 năm.

Trong suốt 30 năm qua, chưa có dấu hiệu gì cho thấy Cộng Sản Việt Nam (CSVN) ổn định được tình hình chính trị vì sự chống đối nổi lên khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại, từ người dân thường cho đến trí thức không Cộng Sản và trí thức Cộng Sản, và từ trong đảng ra đến ngoài đảng.

Mặc dầu CSVN đã chiến thắng năm 1975, nhưng 30 năm qua họ hì hục tranh thủ lòng dân bằng đủ mọi biện pháp, nhất là tuyên truyền. Ở trong nước, nhờ bưng bít thông tin và bạo lực khống chế nên CSVN vẫn còn khả năng kiểm soát tình hình. Nhưng khối người Việt sống trong tự do thì nằm ngoài sự kiểm soát của chế độ mặc dầu CSVN rất muốn khống chế. Cho đến hôm nay, CSVN biết rằng phải thắng được khối người Việt tự do, tức vô hiệu hoá nỗ lực đấu tranh, thì mới hy vọng ổn định chính trị trong nước. Còn người Việt tự do thì biết rằng còn chế độ độc tài cộng sản thì không bao giờ đồng bào tại quê nhà được “độc lập, tự do, hạnh phúc” cả. Còn độc tài cộng sản thì ước mơ canh tân Việt Nam cũng không thể nào đạt được nên điều kiện dứt khoát là phải gỡ bỏ chế độ độc tài.

Trên thực tế, ngay sau ngày 30/4/1075, cuộc chiến giữa một thiểu số lãnh đạo độc tài và đa số khát vọng tự do vẫn tiếp diễn trong 30 năm qua; có lúc âm ỉ ngấm ngầm và có lúc bùng nổ mãnh liệt.

Những gì xảy ra tại Úc trong tuần lễ qua 31/10 đến 6/11, hay cách đây 2 năm đối với vụ VTV4, đã nói lên tất cả ý nghĩa đó.

Tuần qua, khoảng 1500 người biểu tình tại Canberra, 15,000 người biểu tình tại Sydney, 10,000 người biểu tình tại Bankstown, và 2500 người biểu tình tại Melbourne chống lại bốn cuộc trình diễn dùng văn hoá văn nghệ tuyên truyền cho CSVN. Số người biểu tình tại Úc cho thấy đa số người Việt tự do không chấp nhận chế độ này, và bác bỏ hoàn toàn luận điệu là tinh thần đấu tranh của người Việt tự do đang xuống thấp. Chấp nhận chế độ độc tài, đối với họ, có nghĩa rằng sự bỏ nước ra đi tìm tự do của mình là không chính đáng, và rằng công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sẽ trở thành vô nghĩa.

Ở trong nước, tuy bị khống chế mọi mặt nhưng người dân vẫn bất phục, và phần lớn là bất tuân, sự lãnh đạo của CSVN, nhất là trên mặt xã hội và chính trị. Mà không được lòng dân thì kết quả chỉ là những cơn sóng ngầm, vì lịch sử từ xưa đến nay đều chứng minh như thế.

Đối với hải ngoại, khi đã liều mình vượt biển tìm cái sống trong cái chết, khi tự do là tất cả để sống cho đúng với nhân cách một con người, thì những ai thoát khỏi gông cùm cộng sản làm sao quên được bản chất của họ khi những gì xảy ra trong quá khứ vẫn còn tiếp diễn. Người chết mà CSVN còn không tha như đã áp lực chính quyền Nam Dương và Mã Lai đập bỏ hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong. Người sống như trẻ em và phụ nữ Việt Nam thì bị coi như món hàng tiêu khiển cho người khác, trong khi bao người lương thiện trở thành tù nhân lương tâm. Với kiểu cai trị như thế thì làm sao những người có lương tâm và được sống trong tự do có thể làm ngơ! Làm sao dửng dưng trước thời cuộc khi nhà cầm quyền CSVN núp dưới chiêu bài văn hoá văn nghệ mà lại phí phạm cả triệu đô la để đánh bóng cho chế độ độc tài!

Không có chính nghĩa thì CSVN không thể chinh phục được phiá họ chiến thắng. Nhưng ngay chính những người đã đi theo CSVN trong suốt 60 năm qua bây giờ quay lại đặt vấn đề về con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng máu và nước mắt của hàng triệu người Việt Nam như thế có đáng không, nhất là khi Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng còn nhiều quốc nhục và quốc nạn hơn những gì có thật để tự hào.

Sẽ còn rất lâu, hay thực tế hơn, là không khi nào CSVN có thể lấy được lòng dân cả trong lẫn ngoài nước với bản chất tráo trở như vậy. Cuộc đấu tranh vạch trần bản chất và âm mưu của CSVN rất quyết liệt cho đến khi nào tự do và dân chủ thật sự hiện hữu đối với đại đa số người dân.

Trong 60 năm qua, CSVN tồn tại nhờ bưng bít, bạo lực và tuyên truyền. Cho nên người Việt tự do phải dồn mọi nỗ lực để chọc thủng bức tường bưng bít, bẻ gẫy mọi mặt trận tuyên truyền của chế độ tại hải ngoại, và chuyển các thông tin này đi khắp nơi và vào trong nước. Cả ba nỗ lực này người Việt tự do đều có khả năng thực hiện. Được như thế thì mới dần dần chủ động thế tấn công vào những điểm yếu của chế độ độc tài. Một khi hai mũi nhọn của họ bị bẻ gẫy, tức bưng bít và tuyên truyền bị vô hiệu quả, thì vấn đề dùng bạo lực sẽ không còn giá trị bao nhiêu. Lúc đó ngày tàn của chế độ không còn bao lâu.

Phạm Phú Đức
Melbourne, 7/11/2005

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”