Tất Thành Cang và sự ủy nhiệm quyền lực!

Tất Thành Cang, cựu Phó Bí Thư Thường Trực Thành Ủy HCM, ra tòa hôm nay, 27/12/2021. Ảnh: FB Lê Thiếu Nhơn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Hôm nay, 27/12, Tòa án Nhân dân TP.HCM bắt đầu xét xử vụ án “tham ô” và “vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” tại Công ty cổ phần phát triển Nam Sài Gòn – Sadeco. Bị cáo được quan tâm nhất vì có trách nhiệm cao nhất trong vụ án này, chính là nguyên Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM – Tất Thành Cang.

Sadeco là công ty con của IPC – một doanh nghiệp trực thuộc sở hữu của Thành ủy TP.HCM. Vì vậy, việc các lãnh đạo Sadeco nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Tất Thành Cang để chuyển nhượng cổ phần Sadeco, đã gây thiệt hại hơn 1.103 tỷ đồng cho vốn Nhà nước.

Trước tòa, dĩ nhiên bị cáo Tất Thành Cang và 19 bị cáo khác sẽ có những lý do khác nhau để bào chữa cho sai phạm của họ. Thế nhưng, có một điều không thể không băn khoăn, chính là cơ chế giám sát quyền lực để ngăn chặn những kẻ lợi dụng nhiệm vụ được giao mà tự tung tự tác làm thất thoát công sản.

Giám sát quyền lực không thể trông mong vào dấu son trong bản kiểm điểm “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” của mỗi cá nhân hàng năm, mà còn phải tăng cường thanh tra, kiểm tra. Đặc biệt công tác phê bình và tự phê bình đối với những cán bộ lãnh đạo, cần được đặt trong không khí phản biện nghiêm túc và tinh thần đấu tranh chống tiêu cực mạnh mẽ. Bởi lẽ, khi đã đạt được nấc thang danh vọng nhất định, con người thường nghiêng ngả giữa quyền và tiền, giữa danh và lợi.

Mỗi cán bộ được nhận trọng trách, nghĩa là đón nhận hai sự ủy nhiệm. Thứ nhất là ủy nhiệm về sự quản lý. Thứ hai là ủy nhiệm về sự gương mẫu. Để hai giá trị ấy không thể tách rời mà luôn tồn tại song song, thì không thể không đắn đo về sự ủy nhiệm quyền lực. Vì, sự quản lý và sự gương mẫu luôn chênh chao đối với những cán bộ lãnh đạo không có chuyên môn cụ thể.

Một lời phân bua mà những bị cáo xuất thân từ cán bộ phong trào như Tất Thành Cang rất hay đưa ra khi bị phanh phui sai phạm, là… quá tin vào ý kiến tham mưu của cấp dưới. Có thật không? Thật chứ, cán bộ phong trào vốn không có chuyên môn cụ thể nào, nên bên cạnh yếu tố kém tu dưỡng đạo đức thì yếu tố kém trình độ hiểu biết cũng gây vô số tai họa.

Chuyên môn không phải là cố vớt vát cái bằng đại học tại chức hay cố chạy chọt cái học vị tiến sĩ, mà là sự thành thạo trong một công việc đòi hỏi sự từng trải và sự am tường. Chuyên môn quân sự, chuyên môn an ninh, chuyên môn địa chính, chuyên môn thủy lợi… thậm chí chuyên môn khá mơ hồ trong hoàn cảnh chính trị Việt Nam là chuyên môn báo chí, đều là cơ sở cho thái độ chuyên nghiệp trước cuộc sống.

Một lãnh đạo có chuyên môn ở lĩnh vực nào đó, thì họ cũng nhận thức rõ ràng về mức độ phức tạp ở những lĩnh vực khác. Nhờ vậy, họ sẽ cẩn trọng khi thẩm định và phê duyệt mọi chủ trương và quyết sách. Còn lãnh đạo không có chuyên môn cụ thể, cứ quen mồm hô khẩu hiệu thì thấy cái gì cũng đơn giản mà sinh ra ảo tưởng và vĩ cuồng. Hễ có chút lợi ích và được ton hót “anh Hai giỏi quá,” “anh Ba tài lắm” hoặc “anh Tư tuyệt vời” thì ký bừa, ký ẩu để ra oai và ban phát ơn huệ cho thân hữu bè cánh.

Cán bộ càng thăng tiến thần tốc càng ít điều kiện nâng cao năng lực, do phải dành nhiều thời gian cho họp hành, tiệc tùng, giao tế… Vì vậy, đã đến lúc phải tư duy khắt khe hơn về cơ chế ủy nhiệm quyền lực.

Không thể lạc quan tếu để nghĩ rằng, cán bộ phong trào xuất sắc thì có thể lãnh đạo văn hóa, điều hành kinh tế, đánh giá dự án, chỉ huy sản xuất… một cách căn cơ và bền vững.

Đắn đo đối tượng được ủy nhiệm quyền lực là cơ chế giám sát quyền lực ngay từ gốc rễ.

Nguồn: FB Lê Thiếu Nhơn

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”