Thiên không thời, địa không lợi và… nhân không hòa

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Dự án khai thác quặng bauxit ở Tây Nguyên là một việc không quan tâm đến các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Thiên thời ở đây là điều kiện khách quan không thuận lợi. Trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng của cơn khủng hoảng tài chính thế giới, và Việt Nam cũng không ngoại lệ khi đang phải hứng chịu lạm phát phi mã, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Việc triển khai dự án này không phải là giải pháp lợi ích kinh tế hiệu quả bởi: bauxit không phải là quý hiếm do vậy nếu chúng ta khai thác sẽ rất khó bán. Hiện nay chỉ có Trung Quốc, quốc gia đứng thứ hai thế giới trong khai thác và chế biến bauxit, mới có thể đứng ra “bao tiêu” được với giá rất rẻ.

Trong quá khứ, chúng ta đã đặt vấn đề với khối SEV, trong đó có cả Liên Xô, trong việc hợp tác khai thác bauxit ở Tây Nguyên nhưng chính các chuyên gia SEV đã cảnh báo về những bất lợi sẽ xảy ra tiến thành khai thác sẽ không có lợi, đồng thời họ cũng khuyến cáo chúng ta nên trồng những cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cao su… với hiệu quả kinh tế cao hơn.

Còn về địa lợi, Tây Nguyên là nóc nhà của Đông Dương. Việc khai thác bauxit ở Tây Nguyên về mọi mặt không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam mà còn cả với các nước láng giềng như Lào, Campuchia. Quá trình khai thác sẽ có một tác động rất lớn đối với môi trường bởi lẽ, để khai thác quặng bauxit, cần phải bóc một lớp đất dày 10 mét chứa bao nhiêu cây rừng và các thảm thực vật kèm theo đó là hệ sinh thái nhiệt đới phong phú, đồng thời trong quá trình khai thác sẽ tạo ra một lượng bùn khổng lồ gây ô nhiễm.

Theo nguyên tắc, khai thác xong phải hoàn thổ, nhưng công đoạn này đã hết sức khó khăn tốn kém. Thực tế việc khai thác than tại các mỏ lộ thiên ở Quảng Ninh đã cho chúng ta thấy, vì ham lợi mà vô trách nhiệm không hoàn thổ đã để lại một “quang cảnh hãi hùng” ở nơi này. Bên cạnh hiện tượng ô nhiễm ngay tại địa bàn thì việc khai thác bauxit sẽ cần phải sử dụng một lượng lớn nước mặt. Trong khi Tây Nguyên, trong một năm, chỉ có 6 tháng mùa khô và 6 tháng mùa mưa, mà mùa khô ở đây thiếu nước trầm trọng. Ngoài ra, hệ thống các sông Tây Nguyên cung cấp nước mặt cho sông Bé, sông Bé chảy vào sông Đồng Nai tại thị trấn Gia Nghĩa, rồi cung cấp nước ngọt cho TP.HCM. Khi khai thác bauxit sẽ tác động trực tiếp, gây ô nhiễm nguồn nước này, do đó cả TP.HCM sẽ rơi vào cảnh…thiếu nước ngọt.

sự tổn thương đến con người, đến văn hóa Tây Nguyên mới là việc hệ trọng cần phải bàn đến, bởi đó là là thứ tài sản quốc gia vô giá hơn cả.

Việc khai thác bauxit sẽ tiêu thụ một lượng điện rất lớn, trong bối cảnh đất nước đang thiếu điện, có thể xảy ra tình trạng không đủ điện để điện phân quặng đến giai đoạn cuối cùng cho ra nhôm. Do vậy sẽ lãng phí rất lớn vì phải bán quặng thô cho nước ngoài (nếu chế biến được thành alumina giá trị sẽ tăng lên gấp 8 lần, còn nếu chế biến thành nhôm giá trị sẽ tăng lên 100 lần).

Nhưng trên hết, sự tổn thương đến con người, đến văn hóa Tây Nguyên mới là việc hệ trọng cần phải bàn đến, bởi đó là là thứ tài sản quốc gia vô giá hơn cả.

Tây Nguyên là địa bàn sinh sống lâu đời của các dân tộc thiểu số. Họ là chủ nhân lâu đời của mảnh đất này. Đối với người dân Tây Nguyên, cà phê, cao su và các cây lương thực khác đã trở thành “nguồn sống”. Đối với người dân đồng bằng, do công nghiệp hóa, mở rộng các khu công nghiệp, nông dân mất đất, mất ruộng. Một số ít thanh niên may mắn được vào các nhà máy làm việc còn lại đa phần nông đân đều không có nghề. Nhưng những người nông dân này đủ năng động để lên thành phố kiếm việc. Nhưng còn những người dân ở Tây Nguyên thì khác, họ không đủ tháo vát như người dân đồng bằng để tìm kế sinh nhai. Mất đất với họ đồng nghĩa với việc bị tước đoạt toàn bộ phương tiện để sinh sống. Như vậy là chưa nhân hòa.

Trong 5 năm làm điều tra lãnh thổ Tây Nguyên (1977-1981), chúng tôi đã kiến nghị Nhà nước phải coi trọng đời sống cư dân bản địa Tây Nguyên. Dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên là một ví dụ điển hình về việc 30 năm qua, chẳng mấy ai quan tâm đến kiến nghị đó của các nhà khoa học.

03/11/2008

NVC

http://bauxitevietnam.info/c/5320.html

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Ảnh minh họa: Youtube TDGS

Đối chiếu thanh trừng chính trị: Cách mạng Iran 1979 và Việt Nam sau 1975

Dù có ý kiến gì, cũng không thể phủ nhận rằng cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran 1979 có nhiều điểm tương đồng với  những ngày sau biến cố 30/4/1975 trong việc củng cố quyền lực thông qua thanh trừng và cải tạo tư tưởng của các thế lực cầm quyền.

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.