Thiêu sống tù binh: Từ màn ảnh của Chu Lai đến ký ức chiến tranh và bài học cảnh giác

Bà Thiều Thị Tân, một cựu Biệt động Sài Gòn, cựu tù Côn đảo lên tiếng về sự dối trá trong phim "Mưa đỏ"
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công bố chọn bộ phim “Mưa đỏ” đại diện tranh giải hạng mục Phim quốc tế Oscar lần thứ 98, là một quyết định sai lầm không thể nào thảm hại hơn… Có lẽ, sự rùng rợn và khốc liệt về ký ức chiến tranh đã phần nào ảnh hưởng đến cảm hứng của những người làm phim Mưa đỏ — song đó cũng là lý do khiến trách nhiệm của cả chính quyền lẫn người nghệ sĩ càng trở nên nặng nề hơn.

Những ngày gần đây, việc nhà văn Chu Lai và bộ phim Mưa đỏ đưa vào chi tiết hư cấu về cảnh lính thiêu sống tù binh đã gây ra phản ứng mạnh mẽ. Không chỉ những người từng chiến đấu để bảo vệ miền Nam, mà cả các cựu chiến binh miền Bắc cũng bày tỏ sự bất bình. Họ cho rằng chiến tranh đã đủ đau thương, nên việc tái hiện lại cần dựa trên tinh thần tôn trọng sự thật và nhân phẩm của những người từng cầm súng ở cả hai phía. Bởi lẽ, tuy muộn màng nhưng nhận thức, máu nào cũng là máu Việt Nam, đang bắt đầu lan tỏa trong xã hội.

Trong khi đó, suốt chiều dài lịch sử hậu chiến, các cuộc tỷ thí biên giới Trung – Việt và những ký ức bi thương từ cả hai phía vẫn được nhiều nhân chứng, học giả và nhà báo ghi chép lại, tuy bị chính quyền cấm cản. Những tài liệu đó không chỉ giúp hiểu thêm về nỗi đau con người trong chiến tranh, mà còn nhắc nhở về sự cần thiết của thái độ trung thực và nhân văn khi tái hiện quá khứ. Có lẽ, chính sự rùng rợn và khốc liệt về ký ức chiến tranh đã phần nào ảnh hưởng đến cảm hứng của những người làm phim Mưa đỏ — song đó cũng là lý do khiến trách nhiệm của cả chính quyền lẫn người nghệ sĩ càng trở nên nặng nề hơn.

Khi nghệ thuật chạm vào ký ức dân tộc

Tác giả Chu Lai là một lính đặc công, một nhà văn từng viết về đề tài chiến tranh với các góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, với Mưa đỏ, nhiều cựu chiến binh Quảng Trị 1972, từ cả hai phía, đều cho rằng phim đã mô tả những điều “chưa từng xảy ra.” Dưới góc độ học thuật, điều này đặt ra câu hỏi: Ranh giới giữa hư cấu nghệ thuậtsự thật lịch sử nằm ở đâu?

Là một khán giả, ông Trịnh Hòa Bình – cựu chiến binh có mặt hơn mười ngày ở giai đoạn cuối của chiến dịch 81 ngày đêm – nhận xét: Không có trận đánh nào diễn ra bên trong thành cổ Quảng Trị như trên phim. Cựu chiến binh này cũng phản đối, cảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa tra tấn một binh sĩ Bắc Việt là hoàn toàn không đúng thực tế.

Nghệ thuật có quyền sáng tạo, nhưng khi lấy cảm hứng từ sự kiện thật, nhà làm phim phải đối diện với trách nhiệm đạo đức và nhận thức lịch sử. Bởi lẽ, mỗi hình ảnh trên màn bạc đều có thể định hình lại ký ức tập thể, đặc biệt là với thế hệ trẻ không còn trải nghiệm trực tiếp chiến tranh.

Từ ký ức nội chiến đến bài học cảnh giác

Một trong những điểm khiến nhiều người phản ứng là: Thay vì góp phần hàn gắn, một số tác phẩm lại vô tình khơi lại chia rẽ giữa “quốc gia” và “cộng sản.” Thực tế, sau nhiều thập niên, nhu cầu của một bộ phận người Việt cả ở trong nước lẫn hải ngoại đều mong muốn đẩy mạnh hơn nữa “trend” hòa hợp và hòa giải dân tộc. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghệ sỹ, nhà văn, nhà thơ từng nhấn mạnh trong các bài viết về ký ức chiến tranh.

Mười một bài viết của Giáo Sư Nguyễn Phương Mai trên BBC đã chia sẻ những kết quả sơ bộ của một nghiên cứu độc lập, tập trung vào chủ đề hòa hợp dân tộc trong ba khía cạnh: Hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp. Con số 100 trong tiêu đề “Hòa hợp dân tộc: 100 tiếng nói đồng bào” tượng trưng cho trăm trứng từ bào thai của mẹ Âu Cơ. Một trăm người Việt tuổi từ 25 đến 99, từ đủ mọi nẻo đường của cuộc sống đã góp tiếng nói vào dòng chảy của những câu chuyện này.

Ở tầm rộng lớn hơn, lịch sử cho thấy Việt Nam không chỉ từng trải qua nội chiến, mà còn phải nhiều lần đối mặt với các cuộc tấn công dọc biên giới với láng giềng phương Bắc. Những ký ức đau thương ấy từng nhắc nhở rằng: Sự cảnh giác với những nguy cơ bên ngoài là điều cần thiết, nhưng đồng thời, sự đoàn kết trong nội bộ dân tộc còn quan trọng hơn. Nhắc lại quá khứ không phải để nuôi dưỡng hận thù, mà để củng cố tinh thần tự chủ, lòng yêu nước và ý thức bảo vệ hòa bình.

Phải hóa giải ngay một nghịch lý là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đối với 6 tỉnh biên giới phía Bắc từ 1979 đến 1989 – không chỉ là sự xâm lấn quân sự quy mô lớn mà còn ảnh hưởng lâu dài và nặng nề về chính trị, ngoại giao và đời sống xã hội – thì ĐCSVN lại không cho phép truyền thông nhắc đến nhiều. Nếu trong bối cảnh nhất định, buộc phải cho phép báo chí đề cập, thì ngay sau đó đã cho công an lên mạng xóa ngay vết tích các bài viết ấy! Rất may là loạt bài của GS. Nguyễn Phương Mai hiện hữu trên BBC, nên đảng đành thúc thủ; nếu có thể, cũng đã ép BBC “hạ” các bài ấy xuống (?).

Nghệ thuật và trách nhiệm với lịch sử

Điện ảnh chiến tranh, nếu làm đúng, có thể là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại – giúp người xem hiểu sâu hơn giá trị của hòa bình và lòng nhân ái. Nhưng nếu khai thác bằng góc nhìn cực đoan, thậm chí là bịa đặt 100% như cảnh thiêu sống tù binh trong Mưa đỏ, thì hoàn toàn có thể biến bi kịch lịch sử thành công cụ để chia rẽ dân tộc, giam hãm cả dân tộc trong vòng thù hận truyền kiếp! Điều mà công chúng thất vọng ở Mưa đỏ chính là sự thiếu trung thực với lịch sử, đi ngược lại tinh thần nhân văn, và thông điệp hàn gắn quốc gia.

Chính xuất phát tư những yêu cầu được người đứng đầu đảng tuyên bố là sẽ đưa dân tộc “vươn mình” vào kỷ nguyên mới, thì việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công bố chọn bộ phim Mưa đỏ đại diện tranh giải hạng mục Phim quốc tế Oscar lần thứ 98, là một quyết định sai lầm không thể nào thảm hại hơn. Đem một bộ phim xiển dương “cơn điên tập thể,” khơi dậy “lòng hận thù tưởng tượng” của cả một dân tộc ra để khoe mẽ với thế giới thì sẽ thu lại được điều gì, chắc không khó để dự đoán!

Cho nên khi nhà văn hoặc đạo diễn chọn kể lại một lát cắt của chiến tranh, họ không chỉ đang làm nghệ thuật, mà còn đang đối thoại với ký ức dân tộc. Đó là lý do vì sao từng chi tiết – dù nhỏ đến đâu – đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh làm tổn thương những người từng đi qua chiến trường và những thế hệ đang tìm kiếm sự thật lịch sử.

***

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng bài học của nó vẫn còn nguyên giá trị. Khi nghệ thuật tái hiện quá khứ, trách nhiệm lớn nhất không phải là kể lại câu chuyện của một phía, mà là giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rằng: Mỗi giọt máu đổ xuống đều đáng để chúng ta trân trọng, và mỗi lần nhớ lại quá khứ là để biết cách gìn giữ nền hòa bình hiện tại vững bền hơn.

Hồng Vỹ

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”