Thông điệp về Sinh lộ và Tử lộ

TBT Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình chúc mừng nhau sau lễ ký kết một số thỏa hiệp song phương ở Hà Nội ngày 5 tháng Mười Một, 2015. Ảnh: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

(Hưởng ứng Lời kêu gọi chống Trung Quốc xâm lược)

Lời kêu gọi chống Trung Quốc xâm lược (gọi tắt là kêu gọi Thoát Trung) là bước đầu gửi thông điệp gửi tới Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Việt Nam và cả nhân dân Việt Nam. Đó là thông điệp về bản chất của mâu thuẫn Việt Trung và về những lối thoát.

Trung Quốc là kẻ thù đáng sợ nhất của nhân loại với hai sức mạnh kinh khủng là số dân 1 tỷ rưỡi người và một chế độ toàn trị Phong kiến Đại Hán, một đặc sản không giống bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Mối nguy Đại Hán thời hiện đại vượt xa mối nguy Đức Quốc Xã và mối nguy CS Liên Xô trước đây.

Chế độ toàn trị Đại Hán ấy kết tinh hai mặt Nho gia và Pháp gia, phối hợp nhuần nhuyễn giữa Đức trị mị dân với bạo lực đàn áp quyết liệt đã giữ cho cái nước khổng lồ ấy không bị tan vỡ thành các nước nhỏ, đã đồng hóa được lý thuyết toàn trị Cộng sản, và đồng hóa luôn nền kinh tế tư bản tiên tiến của Âu Mỹ khi du nhập vào. Dù là lý thuyết Mác-Lê, dù là đồng tiền và kỹ thuật của các nước tư bản lớn nhất, những sức mạnh CS hay Tư bản ấy vào đến Trung Quốc đều bị đồng hóa để mang một “màu sắc Trung Quốc”, tức là rốt cuộc chỉ tăng cường sức mạnh cho nền Phong kiến toàn trị Đại Hán mà thôi.

Vì thế khi Liên Xô và CS Đông Âu tan rã, ĐCSVN quyết định dựa hẳn vào vòng tay Trung Quốc như lối thoát duy nhất cho ĐCSVN là điều dễ hiểu, vì nghĩ rằng chỗ dựa ấy là vĩnh cửu, bất kể phải trái, bất kể bản chất thiện ác, bất kể thế giới có diễn biến ra sao, dựa vào Trung Quốc vĩ đại là lối thoát trường cửu.

Nhưng thực tế không thể bình yên như vậy, vì Trung Quốc vốn nung nấu một tham vọng khủng khiếp, chẳng những phải biến Việt Nam thành chư hầu như đứa con ngoan mà còn phải vươn lên đứng đầu và làm bá chủ toàn cầu. Trong kế hoạch toàn cầu “nhất đới nhất lộ” của Trung Quốc thì Việt Nam có vai trò đặc biệt, về vị trí địa lý cũng như về ảnh hưởng. Việt Nam là nước láng giềng “cứng cựa” nhất, 1.000 năm cai trị mà không đồng hóa nổi, Việt Nam là tấm gương cho nhiều nước Á Phi của thế giới thứ ba, và quan trọng hơn, Việt Nam có vị trí phên giậu và vị trí tiền đồn trong toàn con đường xâm lược của Tàu. Không chinh phục cho xong Việt Nam thì Trung Quốc khó lòng phát huy uy lực ra toàn thế giới.

Vì thế việc triển khai giấc mộng bá vương toàn cầu ấy trước hết gây biến đổi dữ dội trong nội tình Việt Nam. Khi chưa lộ rõ nguy cơ ngoại xâm thì vai trò cai trị của ĐCSVN tưởng như chẳng ai dám đụng đến, khắp nơi cứ “đời đời ơn Bác ơn Đảng” chẳng ai dám hé môi, dù trong xã hội đã bộc lộ những vấn nạn tất yếu bản chất của con đường Cộng sản. Tôi còn nhớ lúc đó một khẩu hiệu yêu nước “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” cũng phải viết tắt, chọn lúc đêm khuya mới đem dán vội ở cột điện. Nhưng hành động xâm lược trắng trợn của giặc Tàu mà ĐCSVN không hề có sự phản kháng thích đáng nào để giữ nước, đã khiến cho cùng một lúc nổ ra phong trào vạch mặt cả giặc Ngoại xâm Tàu và giặc Nội xâm Việt, tức ĐCSVN (là Nội xâm vì thực chất ở tất cả các nước chuyên chính CS, các đảng CS thực chất đã chiếm hết quyền làm chủ đất nước của nhận dân, nhân dân ở mọi nước CS đều bị mất nước vào tay ĐCS chứ không phải riêng ở Việt Nam).

Về phía Trung Quốc, cái điểm tựa tưởng như cái cột trụ vĩ đại để CSVN dựa vào thì nay chẳng còn vững chắc gì, đang bị trao đảo dữ dội khi nó lộ diện thành kẻ thù nguy hiểm nhất của thế giới. Các nước tư bản trước đây đã xúm vào buôn bán với Trung Quốc khiến cho con sư tử Trung Quốc vùng lên, nay đã quay lại dùng chiến tranh thương mại để hạ gục Trung Quốc. Trung Quốc như tên nhà buôn giỏi nhất thế giới nay đang nguy ngập chính vì đòn thương mại, “sinh ư nghệ tất tử ư nghệ”, thậm chí nếu có nguy cơ bị tách thành nhiều nước nhỏ thì thật giúp cho nhân loại thoát được một mối họa ngàn năm.

ĐCSVN định dựa hẳn vào CS Tàu như tìm ở đó một SINH LỘ cho sự cai trị Cộng sản, tưởng đó lối thoát khôn ngoan, nhưng nay đã thành tai vạ cho chính người đã chọn nó. Chính những hành động bất chấp của Trung Quốc đã làm lộ ra tất cả những điều mà ĐCSVN cần giữ kín, nghĩa là gây bất lợi cực kỳ tai hại cho uy tín của ĐCSVN, và Sinh lộ lúc đầu nay cũng đã thành Tử lộ đối với ĐCSVN rồi. Còn đối với nhân dân Việt Nam, lịch sử đã dạy rằng chui vào trong tay Tàu thì bao giờ cũng là là TỬ LỘ, người Việt Nam yêu nước và tỉnh táo không bao giờ nhầm.

Đến cơ sự này thì lối thoát mới cho ĐCSVN thiết tưởng đã hiện ra quá rõ, con đường bỏ Nhân dân để “sang sông” kết với với giặc Tàu cùng Ý thức hệ chính là con đường tự diệt nhanh chóng. Sinh lộ mới cho đảng chính là quay đầu về bờ , từ giã “anh bạn vàng” với cái dây trói Ý thức hệ mù mờ xảo trá, có như vậy mới tìm lại được sức mạnh với Nhân dân, ở đó Nhân dân bao giờ cũng mở rộng vòng tay, cái vòng tay mà từ Bà Trưng-Bà Triệu đến Hưng Đạo-Quang Trung đã ôm lấy giống nòi để cùng chiến đấu chống lại “kẻ thù truyền kiếp” (chữ trong văn kiện của ĐCSVN), buộc chúng phải từ bỏ dã tâm đô hộ để cùng nhau chung sống hòa bình và hữu nghị, trong một thế giới cùng nhau phát triển, an lạc, văn minh.

Còn như lập trường chịu nhục để tránh chiến tranh thì kết quả sẽ lãnh đủ cả chiến tranh lẫn nhục nhã, chân lý muôn đời đã dạy.

Vâng, LỜI KÊU GỌI chống Trung Quốc xâm lược mà đông đảo Trí thức và Nhân dân hiện nay đang ký tên tuy chỉ hướng vào một mục tiêu chống những hành động xâm lược trước mắt, nhưng thông điệp toản cục sâu xa của Nhân dân, cho cả một giai đoạn lịch sử lâu dài phải được hiểu đầy đủ như vậy.

2/9/2019

Hà Sĩ Phu

Nguồn: Bauxite Việt Nam

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”