Tiễn biệt GS Tương Lai

GS Tương Lai. Tranh: Hoàng Tường
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lợi Mai Phan

Tôi biết Tương Lai từ những ngày đầu tiên cộng tác rồi trở thành nhân sự cốt cán của tờ báo TP.HCM thường trú ở Hà Nội. Khi ấy, mỗi dịp số Xuân, số chuyên đề hay nguyệt san, một trong những việc “khó mà vinh dự” nhất của tôi là liên hệ đặt bài từ một trí thức dòng chính của Viện Xã hội học, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Những bản thảo của ông gửi đến luôn đúng hẹn, chỉnh tề, và gần như… không thể sửa. Không phải vì ông “khó tính” với biên tập viên, mà bởi từng câu chữ đã được cân nhắc đến mức, muốn bớt đi một dấu phẩy cũng thấy có lỗi. Có những bài, tôi nhớ mình đã đọc đi đọc lại nhiều lần trước khi dàn trang – không phải để sửa, mà để học.

Trong làng báo, chúng tôi vẫn gọi đó là “bài đinh.” Và với riêng tôi, bài của GS Tương Lai gần như mặc định là “đinh của đinh.”

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở kỹ năng viết, thì có lẽ ông đã không trở thành một dấu ấn đặc biệt như vậy.

Điều làm nên một dấu ấn “Xã hội học” mang tên Tương Lai, tôi nghĩ nằm ở ba trụ cột tư tưởng mà ông kiên trì theo đuổi suốt cuộc đời, đã tạo ra thăng trầm và cũng chính là ba lằn ranh mà ông chưa bao giờ bước lùi.

Trụ cột thứ nhất, dân tộc là trên hết.

Tôi từng đọc một bài của ông về Biển Đông, trong đó không có những khẩu hiệu lớn, mà là những phân tích tỉnh táo về tương quan quyền lực, về lựa chọn chiến lược giữa các trục quan hệ quốc tế. Ông không né tránh khi nói về những nguy cơ, cũng không cực đoan khi đề xuất giải pháp. Điều rõ nhất là: Mọi lập luận đều quay về một điểm tựa: Lợi ích quốc gia.

Trong một thời đại mà nhiều người dễ bị cuốn theo ý thức hệ hoặc cảm xúc nhất thời, cách ông giữ được sự tỉnh táo ấy là điều không dễ.

Trụ cột thứ hai, cải cách thể chế là chìa khóa.

Thời còn làm việc trong Tổ tư vấn của Võ Văn Kiệt rồi Ban nghiên cứu của Phan Văn Khải, ông không chỉ là một nhà nghiên cứu, mà là người trực tiếp góp tiếng nói vào những quyết sách lớn. Nhưng điều đáng nói là, ngay cả khi rời khỏi hệ thống, ông vẫn giữ nguyên một mạch tư duy: Cải cách kinh tế sẽ không thể bền vững nếu không song hành với cải cách thể chế.

Sau này, khi tham gia Viện Nghiên cứu Phát triển IDS và chứng kiến sự kiện IDS tự giải thể năm 2009, tôi hiểu rằng với ông, phản biện không phải là một “vai diễn,” mà là một lựa chọn có trả giá.

Trụ cột thứ ba, và có lẽ là sâu sắc nhất, trí thức phải nói thật.

Có một lần, trong một bài viết gửi báo, ông viết đại ý rằng: Trí thức nếu chỉ nói điều dễ nghe, thì không còn là trí thức; còn nếu đã thấy vấn đề mà im lặng, thì là có lỗi.

Câu đó theo tôi suốt nhiều năm làm báo.

Và có lẽ cũng là chìa khóa để hiểu những lựa chọn gai góc của ông sau này, từ việc lên tiếng về giáo dục, tham nhũng, đến tuyên bố “dứt bỏ” gây nhiều tranh luận năm 2017. Có thể người ta đồng tình hoặc không, nhưng rất khó phủ nhận một điều: Ông nhất quán với chính mình.

Hôm nay, khi nghe tin ông ra đi đúng vào ngày 30/4, một ngày mang nhiều tầng ý nghĩa lịch sử, tôi bất chợt nhớ lại những buổi chiều cách đây hàng chục năm, khi ngồi trước bản thảo của ông, cân nhắc từng dòng tít, từng dấu chấm câu…

Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ đơn giản: Mình đang làm việc với một tác giả khó tính và xuất sắc.

Bây giờ nhìn lại, mới hiểu: Mình đã có may mắn được làm việc, dù gián tiếp, với một trí thức đúng nghĩa.

Một người đi từ trung tâm của hệ thống đến vị thế phản biện độc lập, nhưng không bao giờ rời bỏ điều cốt lõi: Trách nhiệm với đất nước, với sự thật, và với chính lương tâm của mình.

Có thể rồi đây, chúng ta sẽ còn tranh luận về ông, về những quan điểm, những lựa chọn, những phát ngôn.

Nhưng có lẽ, điều quan trọng hơn là: Chúng ta có dám giữ lại cho mình một phần tinh thần ấy hay không.

Tinh thần của một người viết mà từng dấu phẩy cũng không dễ thay đổi.
Tinh thần của một trí thức mà từng quan điểm đều phải trả giá.
Và tinh thần của một công dân luôn đặt câu hỏi: Điều gì là tốt nhất cho đất nước này?

Tiễn biệt Giáo sư.

Những “bài đinh” của ông có thể đã khép lại. Nhưng những câu hỏi ông để lại, có lẽ sẽ còn rất lâu mới có lời đáp.

Nguồn: Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Phối cảnh dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đoạn qua khu vực nội đô. Nguồn: UBND TP Hà Nội, via VnExpress

Sân Golf và nghịch lý quyền lực trong thể chế đảng–Nhà nước

Việt Nam có khoảng 80 đến 100 sân golf với khoảng 100.000 đến 120.000 người chơi — tức là chưa đầy 0,2% dân số. Con số này tự nó đã là một tuyên ngôn chính trị: Hàng chục ngàn hecta bị chiếm dụng để phục vụ một tầng lớp cực nhỏ, trong khi hàng trăm nghìn nông dân mất đất mưu sinh. Đây không phải là thất bại chính sách ngẫu nhiên — đây là kết quả có hệ thống của cách thể chế đảng–nhà nước vận hành.

Kế hoạch dự phòng của châu Âu để thay thế NATO

Kế hoạch B vì thế đòi hỏi nhiều hơn là chỉ dự trữ thêm vũ khí — mà là xây dựng một cấu trúc để châu Âu có thể theo đó mà chiến đấu. Nền tảng của cấu trúc đó, ít nhất là đối với các nước Bắc Âu, có lẽ sẽ là một liên minh nòng cốt gồm các nước vùng Baltic, các nước Bắc Âu và Ba Lan. Các nước này đều chia sẻ những giá trị chung và một nỗi lo sợ chung trước Nga.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Tô Lâm dựa vào Tàu để củng cố quyền lực

Tô Lâm muốn dùng ba trụ cột để tạo một “kỷ nguyên vươn mình” theo kiểu mệnh lệnh: Công an để giữ trật tự, vốn và kỹ thuật Trung Quốc để dựng hạ tầng, và lao động Việt Nam để biến đất nước thành công xưởng mới trong chuỗi cung ứng khu vực.

Vấn đề là một quốc gia có thể tăng trưởng nhờ mô hình ấy, nhưng liệu có thể trở thành một nước mạnh, tự do, sáng tạo và độc lập nhờ mô hình ấy hay không?

Câu trả lời có lẽ không mấy sáng sủa.

Ảnh minh họa: Sự đa dạng của những người dám nói thật

Trái tim và khối óc của những người dám nói thật

Họ không phải là những nhân vật xa lạ trong lịch sử. Họ là nông dân mất đất, giáo viên dạy tiếng Anh, tài xế phản đối trạm thu phí, bác sĩ y học cổ truyền, nhà thơ in thơ vỉa hè, nghệ sĩ hài độc thoại, và những bà nội trợ mang cơm cho dân oan. Điều làm họ đặc biệt không phải là địa vị hay học vấn, mà là sự kết hợp giữa tấm lòng không chịu đứng nhìn bất công và đầu óc biết biến nỗi đau thành hành động có mục tiêu.