TNLT Nguyễn Văn Hóa: Mẹ và câu đùa nhưng rất thật

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Mấy ngày gần đây, những tin tức liên quan đến mẹ của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hóa bị đổ bệnh và phải ra Hà Nội cấp cứu, lòng tôi như thắt lại khi biết rằng chỉ vì cuộc sống mưu sinh mà bà đã phải làm việc trong môi trường độc hại.

Nhìn hình ảnh bà trong bệnh viện, làm tôi nhớ đến câu chuyện về đứa con của bà – em Nguyễn Văn Hóa. Sâu hơn qua cái vẻ ngoài vô tư của Hóa là một nỗi lo toan cho người mẹ tần tảo của mình. “Chỉ có mẹ là yêu tau (tao) nhất, bây đừng lừa tau” – câu nói đùa mang đậm chất Nghệ Tĩnh, qua ngôn ngữ của Hóa làm tôi nhớ mãi không quên.

Tôi có may mắn được quen biết Hóa – một thanh niên cao gầy nhưng đầy nhiệt huyết. Tôi gặp em trong những ngày đầu khi xảy ra sự kiện Formosa xả thải ra biển Miền Trung làm chết hàng trăm tấn cá trên các bờ biển tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và cả Nghệ An.

Những tiếng pháo hiệu biểu tình từ Nghệ An làm cho người dân cả nước bừng tỉnh. Những cuộc xuống đường tại các giáo xứ như Phú Yên, Song Ngọc tại Nghệ An cũng thu hút bước chân của cậu trai trẻ. Tôi cũng rời bỏ Lâm Đồng do bị bức hại để về lại cố hương và hòa mình vào đời sống của những ngư dân nơi đó. Tại làng chài Tân An – là nơi tôi đã gặp Hóa trong một lần không hẹn mà hò.

Nguyễn Văn Hóa ở Hà Tĩnh và đã vượt đường xa ra tận Nghệ An để trợ giúp cho các Linh mục đang đòi công lý cho các nạn nhân môi trường. Hoá ra giúp Cha Nguyễn Đình Thục điền đơn kiện Formosa, tính toán các thiệt hại và huấn luyện một số em làm truyền thông.

Trong những lần qua giáo xứ Phú Yên, chúng tôi có thời gian gặp gỡ nhau nhiều hơn. Các bạn trẻ thường hay đùa nhau và Hóa thường nhại giọng Diễn Châu để ghẹo lại. Câu nói mà tôi ấn tượng nhất vì tính hài hước qua giọng chua chua của Hóa đáp lại những lời trêu của các bạn nữ: “Chỉ có mẹ là yêu tau nhất, bây đừng lừa tau.”

Tuy là một câu nói đùa nhưng khi nhìn bức hình mẹ Hóa nằm trong bệnh viện, có lẽ nó không còn là đùa nữa. Mẹ của Hoá đã bị phản ứng với chất hóa học vì lo cho gia đình. Đứa con út của bà đã bị bắt và kết án dài đằng đẵng – tới 7 năm tù vì giúp các đồng hương là nạn nhân Formosa. Có bà mẹ nào không thương xót khi con bị tù và càng thương hơn khi bị tù mà không có tội. Thời gian ngóng chờ là giai đoạn lâu và dằn vặt nhất. Bao nhiêu câu hỏi và suy nghĩ mông lung trong đầu của những người thân khi thăm viếng hoặc nghe ngóng tin của con em mình.

Có thể mẹ của Hóa không nghe được câu nói mà những bạn trẻ của Hoá từng bấm bụng cười lúc trước. Nhưng tôi nghĩ nếu bây giờ bà nghe được câu nói thân thương đó, chắc chắn bà sẽ ấm lòng hơn. “Chỉ có mẹ là yêu tau nhất, bây đừng lừa tau” – đâu phải là đùa – mà là thật – rất thật của một đứa con muốn dấn thân canh tân bản thân và môi trường.

Điều đau lòng nhất của bố mẹ là gì? Có phải là con mình sẽ ăn chơi sa đọa và mối họa cho cuộc đời, cho chính bản thân nó hay chăng? Tôi nghĩ là câu nói đùa của Hóa không phải chỉ cho vui, mà sự thật là như thế. Tình mẹ bao la như biển thái bình, nhưng mấy đứa con nào biết, cho dù đó là công mang nặng đẻ đau.

Mẹ của Hóa có lẽ buồn và lo vì cơn bệnh của mình nhưng có một điều mà bà không phải lo sợ: Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hóa – là một người con, một công dân, một người tốt bị oan sai mà thôi.

Lao tù vì làm điều tốt, điều lợi ích cho đồng bào, cho tổ quốc của mình thì đâu phải là người xấu, đâu có gì phải hổ thẹn với lương tâm.

Ai trong chúng ta cũng đều có mẹ, và nhất là với những ai đang là bố, là mẹ, chúng ta nghĩ gì khi có một người mẹ vì con đã đổ bệnh và đứa con vì mẹ mà phải hi sinh cả tuổi thanh xuân trong lao tù?

“Chỉ có mẹ là yêu tau nhất, bây đừng lừa tau”!

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”