Tổng Thống Bush Và Đảng Cộng Hòa Thắng Lớn

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Sáng ngày 3/11/2004, khoảng 12 tiếng sau ngày bầu cử, ứng cử viên Tổng thống John Kerry đã gọi điện chấp nhận thua cuộc với đương kim Tổng thống George W. Bush, chấm dứt những ngày tháng vận động chính trị thật căng thẳng và quyết liệt từ hai phía, Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa. Chiến thắng này của TT Bush đã không chỉ thể hiện tiếng nói đa số của quần chúng cử tri Hoa Kỳ mà còn phản ảnh được những quan tâm và nhu cầu của đa số cử tri người Mỹ gốc Việt. Trước hết, hãy nói về cách thắng cử của TT Bush và Đảng Cộng Hòa nói chung.

Không giống như kỳ bầu cử Tổng thống vào năm 2000, TT Bush lần này đã thắng luôn cả tổng số lá phiếu cử tri trên toàn quốc. Tính đến hôm nay 4/11, với 99,5% tổng số phiếu bầu trên toàn nước Mỹ đã được kiểm qua, TT Bush đã vượt qua Thượng nghị sĩ (TNS) Kerry với khoảng cách biệt là 51,06% đối với 48,02%. TT Bush đạt được khoảng 59,2 triệu phiếu, TNS Kerry đạt 55,7 triệu phiếu, với 274 cử tri đoàn thuộc về TT Bush và 252 cử tri đoàn thuộc về TNS Kerry (còn lại 12 cử tri đoàn chưa được quyết định tại tiểu bang New Mexico (5) và Iowa (7)). Một cách tổng quát, TT Bush đã thắng với hơn 3,5 triệu phiếu bầu và cũng là ứng cử viên Tổng thống đầu tiên kể từ năm 1988 (thời của ông Bush cha) nhận được hơn 50% trong toàn bộ số phiếu của cử tri. Theo Ủy Ban Nghiên Cứu Cử Tri Đoàn Người Mỹ (The Committee for the Study of the American Electorate) cho biết, có ít nhất 60% người Mỹ trong tuổi đi bầu đã tham gia bầu phiếu kỳ này, một tỷ lệ đi bầu cao nhất kể từ năm 1968 (61,9%) trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Tại tiểu bang Florida năm nay, TT Bush đã nhận được 52% phiếu bầu so với Kerry là 47%. Tỷ lệ phiếu thắng này cũng xảy ra tương tự tại tiểu bang Ohio, với việc TT Bush dẫn đầu với 51% so với 48,5%.

Theo kết quả các cuộc thăm dò cử tri đã đi bầu tại nhiều tiểu bang trọng điểm, TT Bush đã đạt được 85% ủng hộ của những cử tri cho rằng khủng bố là vấn đề quan trọng nhất của cuộc bầu cử này. Và cử tri tin tưởng TT Bush hơn TNS Kerry trong việc đối đầu với nạn khủng bố, dù rằng có người không thật sự hài lòng về những việc làm của TT Bush. TT Bush được cử tri nhìn thấy như một người lãnh đạo có chính kiến và đường lối rõ ràng, vững vàng, dù là có khác ít nhiều với họ. Trong khi đó, người ta không nhìn thấy ở TNS Kerry một người kiên định trong lập trường. Đảng Cộng Hòa cũng đã đặc biệt quan tâm đến việc vận động đông đảo giới cử tri bảo thủ thuộc Thiên Chúa Giáo. TT Bush đã trấn an họ bằng quan điểm của ông đối với việc lập gia đình giữa những người đồng tính, vấn đề phá thai và nghiên cứu về những tế bào gốc sản sinh con người. Vào năm 2000, khoảng 4 triệu cử tri bảo thủ đã không hứng thú về ông Bush và ở nhà thay vì đi bầu. Năm nay, họ đã chiếm khoảng 20% tổng số cử tri; và các cuộc thăm dò cho thấy họ đã bầu cho TT Bush với tỷ lệ 3 (thuận) – 1 (không). Tại 11 tiểu bang Hoa Kỳ, họ cảm thấy cần đi bầu vì muốn có những dự luật ngăn chặn việc chính thức hóa cấu trúc gia đình của những người đồng tính. Ngoài ra, Đảng Cộng Hòa và TT Bush nói chung đã thắng lớn tại hầu hết các tiểu bang thuộc miền Nam, trung Nam, trung Tây Hoa Kỳ, nơi mà đa số cử tri sống ở các “miền quê”, thay vì là “thành thị” như các tiểu bang miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ với đa số cử tri theo Đảng Dân Chủ. Nhìn tấm bản đồ ghi lại con số cử tri đoàn tại các tiểu bang mà TT Bush đạt được, người ta dễ dàng nhận thấy một khoảng lớn các tiểu bang màu đỏ (màu tiêu biểu cho Đảng Cộng Hòa, còn màu xanh là cho Đảng Dân Chủ) nằm hoàn toàn ngay giữa “trái tim” (heartland) của đất nước Hoa Kỳ.

Đối với TNS Kerry và Đảng Dân Chủ thì được nhiều bình luận gia cho rằng họ đã có nhiều sai sót trong việc trình bày quan điểm và đường lối của mình. Riêng TNS Kerry đã không thể phản công lại những quảng cáo tấn công từ phe bảo thủ và Đảng Cộng Hòa nói chung, liên quan đến TNS Kerry về mặt tư cách cá nhân, sự thiếu cứng rắn và những thông điệp không rõ ràng, thiếu thống nhất trong phần lớn thời gian của mùa bầu cử; để rồi TNS Kerry cuối cùng phải dựa quá nhiều vào việc vận động cử tri đi bầu thật đông thay vì cố gắng thu hút một bộ phận cử tri rộng lớn hơn. Cũng có nhiều người cho rằng lỗi thất bại này không phải của riêng TNS Kerry mà là của cả Đảng Dân Chủ. Đây là lần bầu cử Tổng thống thứ hai mà Đảng Dân Chủ đã thua trong cuộc tranh luận về những giá trị gia đình, xã hội và văn hóa. Theo kết quả các cuộc thăm dò những người đã đi bầu xong, 15% cử tri cho rằng cuộc chiến tại Iraq là điều quan trọng nhất đối với họ và Kerry đã nhận đuợc 75% phiếu bầu của họ. Mặt khác, hàng loạt những phát biểu và phiếu bầu (tại Thượng Viện) trái ngược của Kerry về vấn đề Iraq đã giúp cho TT Bush có thêm nhiều yếu tố để “định nghĩa” Kerry như là một chính trị gia cơ hội, thích nói những gì mà ông nghĩ là giới cử tri muốn nghe.

Tuy nhiên, cuối cùng thì điều quan trọng nhất là cử tri bầu cho một ứng cử viên có viễn kiến hay, sự can đảm và tính dứt khoát. Dù là cử tri có đồng ý hay không đồng ý với ứng cử viên đó nhưng họ chỉ cần biết quan điểm của người đó là gì và người đó có đáng tin cậy hay không. Riêng đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, TNS Kerry đã làm “phật lòng” nhiều cử tri gốc Việt khi ông ngăn cản các dự luật nhân quyền (tại Thượng viện Hoa Kỳ) nhằm đòi hỏi chính quyền Cộng sản Việt Nam chấm dứt tình trạng đàn áp nhân quyền và dân chủ. Trong khi đó, suốt nhiệm kỳ 4 năm vừa qua, TT Bush cũng đã bổ nhiệm nhiều cá nhân người Mỹ gốc Việt vào các trách vụ trong chính phủ Hoa Kỳ mà đặc biệt nhất là quyết định bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng (Phụ tá Bộ Trưởng) Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho Giáo sư Đinh Việt. (Đ.V.)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”