Vấn Đề Công Nhân Đình Công Tại Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong những ngày đầu năm 2006, tại các khu chế xuất ở Sài Gòn và Bình Dương đã có khoảng 20 cuộc đình công của hàng chục ngàn công nhân thuộc 13 công ty có vốn nước ngoài để đòi tăng lương. Đa số các công ty liên hệ đến ngành dệt may, da giày và lắp ráp linh kiện có chủ nhân là các quốc gia Đài Loan, Nam Hàn. Những cuộc đình công này bắt nguồn từ hai cuộc đình công đã xảy ra vào cuối năm 2005. Một là cuộc đình công xảy ra đầu tiên của 960 công nhân thuộc hãng đóng giày Rieker Vietnam (23/11/2005). Hai là cuộc đình công của 18,000 công nhân thuộc công ty lắp ráp linh kiện Freetend (28/11/2005). Cả hai cuộc đình công đều có một yêu sách chung là yêu cầu chủ nhân phải tăng từ 30 đến 40% lương. Cuộc đình công của hai công ty nói trên đã nhanh chóng lan rộng đến 13 công ty khác, tạo một sự quan tâm rất lớn trong dư luận vì đây là lần đầu tiên có những cuộc đình công quy mô tại những công ty có vốn nước ngoài.

Theo dõi những yêu sách của công nhân xuyên qua các cuộc đình công và cách ứng phó của chủ nhân công ty cũng như của các quan chức Cộng sản Việt Nam, người ta thấy là không sớm thì muộn những cuộc đình công tại các công ty sẽ bùng nổ và có thể đưa đến những cuộc đấu tranh đòi cải thiện dân sinh, dẫn đến những khủng hoảng chính trị như đã từng xảy ra tại Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan vào những năm trong thập niên 80 của thế kỷ trước. Mặc dù yêu sách của công nhân là tăng lương, nhưng nội dung của yêu cầu này không giống như sự đòi tăng lương hàng năm của công nhân tại các quốc gia công nghiệp tiên tiến. Mức lương mà công nhân Việt Nam đang hưởng hiện nay không chỉ rẻ mạt mà còn bất công vì bị ăn chận ở hai đầu từ giới chủ nhân và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Theo luật đầu tư nước ngoài công bố năm 1989, Cộng sản Việt Nam quy định lương tối thiểu của công nhân làm việc tại những công ty có vốn nước ngoài từ 45 đến 50 Mỹ kim/tháng. Đáng lý ra sau 10 năm thì mức lương tối thiểu phải gia tăng trong sự phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi của xã hội; nhưng nhà cầm quyền Hà Nội lại hạ xuống thành ba mức 30 Mỹ kim, 40 Mỹ kim và 45 Mỹ kim/tháng, theo quy định của Bộ thương binh và xã hội vào tháng 7 năm 1999. Hà Nội hạ mức lương để thu hút đầu tư từ các công ty nước ngoài, khoe với cả nước là đầu tư gia tăng nhưng thực tế là làm hại nền kinh tế và chỉ làm lợi cho các chủ nhân ông ngoại quốc. Không những thế, 10 năm trước đây Hà Nội quy định hối xuất 1 Mỹ kim ăn 13,910 đồng nhưng hối xuất này vẫn giữ nguyên cho đến nay dù thị trường đã thay đổi, có lúc 1 Mỹ kim ăn 15,890 đồng như hiện nay. Trong khi công nhân Việt Nam bị mức lương rẻ mạt do chính quyền của mình quy định thì công nhân tại những quốc gia bên cạnh như Thái Lan, Phi Luật Tân được hưởng từ 70 đến 100 Mỹ kim/tháng, công nhân Trung Quốc hưởng 65 Mỹ kim/tháng trở lên. Rõ ràng là công nhân Việt Nam đã bị ăn chận ở hai đầu từ chính quyền của mình và từ các chủ nhân ông ngoại quốc.

Cũng theo luật đầu tư nước ngoài, các công ty đều thành lập công đoàn để ’bảo vệ’ quyền lợi công nhân. Trong thực tế, công nhân đóng tiền nuôi công đoàn nhưng cán bộ công đoàn lại đi phục vụ quyền lợi cho các chủ nhân hay ban giám đốc công ty. Nghĩa là đa số các công đoàn đã hành xử theo lối tay sai của chủ nhân để ngăn cản hoặc triệt tiêu những đòi hỏi cải thiện lương bổng hoặc môi trường làm việc của công nhân. Tại nhiều công ty, công đoàn đã thay vì đứng về phía công nhân trong các vụ tranh chấp, lại thay mặt ban giám đốc để ép buộc và đòi hỏi công nhân thi hành những chỉ thị vô lý của chủ nhân hay ban giám đốc. Những bất công vô lý này đã kéo dài từ nhiều năm qua, tạo thành sự phẫn uất trong lòng các công nhân nhưng chưa có dịp bộc phát. Cuộc đình công của 960 công nhân thuộc hãng giày Rieker Viet Nam hôm 23 tháng 11 năm 2005 chống lại ban giám đốc chèn ép bắt làm việc cả ngày, không chịu trả thêm phụ cấp mà còn đe dọa sa thải công nhân, đã châm ngòi cho hàng loạt các cuộc đình công ở nhiều công ty sau đó.

Đáng lý ra, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải tích cực can thiệp để giải quyết các nguyện vọng chính đáng của công nhân, nhưng họ lại đứng về phía chủ nhân công ty cho rằng công nhân bị ’bọn xấu’ xúi giục làm loạn. Thậm chí, Cộng sản Việt Nam đã huy động công an, cảnh sát kể cả những lực lượng thanh niên xung phong, đoàn thanh niên Cộng sản… đến bủa vây các nẻo đường hầu ngăn chận các vụ đình công và để bảo vệ… các công ty không cho công nhân đập phá. Lê Thanh Bình, phó giám đốc công an thành phố Sài Gòn còn tuyên bố là sẽ ’trừng trị những người kêu gọi đình công và sẽ chấn chỉnh không để xảy ra trường hợp tương tự’. Lê Thanh Bình còn cho rằng các cuộc đình công là do bọn xấu và các tổ chức quá khích kích động. Rõ ràng là Cộng sản Việt Nam đã không nghĩ gì đến nguyện vọng của công nhân và coi các cuộc đấu tranh của công nhân là những hành vi chống chế độ.

Tổng kết từ những nguyên nhân và diễn tiến đưa đến các cuộc đình công của công nhân Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy là tình hình sẽ không ngừng lại ở đây, dù là các công ty có tăng một số tiền lương hay bị Cộng sản Việt Nam trấn áp và giải tán. Bản chất của vấn đề nằm ở chỗ nhân phẩm của người công nhân Việt Nam đã bị chà đạp một cách trắng trợn. Muốn giải quyết vấn đề này từ căn gốc, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải để cho công nhân được thành lập Công đoàn độc lập, đại diện quyền lợi chung cho công nhân tại các công ty để vừa bảo vệ quyền lợi, vừa đưa ra những đối sách đáp ứng nguyện vong chung của công nhân ở mỗi công ty. Công đoàn độc lập là một nhu cầu bức thiết tại những quốc gia phát triển dựa trên vốn đầu tư nước ngoài. Nó vừa là trọng tài, vừa là cơ chế ngăn chận những bóc lột từ chủ nhân và từ chính quyền. Do đó, muốn Việt Nam phát triển đúng nghĩa và quyền lợi của công nhân được bảo vệ, đây là lúc Cộng sản Việt Nam cần đứng ra ngoài cuộc đấu tranh hiện nay, để cho đại diện công nhân đối thoại bình đẳng với chủ nhân các công ty hầu thiết lập lại những nền tảng bảo vệ nhân phẩm của người công nhân Việt Nam.

Trong tinh thần đó, Cộng đồng người Việt hải ngoại có rất nhiều điều kiện để hỗ trợ cuộc vận động thành lập Công Đoàn Độc Lập tại Việt Nam qua những quan hệ với chính giới và các tổ chức lao động tại quốc gia mình cư ngụ. Chỉ có nỗ lực này, chúng ta mới thực sự góp phần ngăn chận sự bất công, trù dập của Hà Nội đối với công nhân và đặt thẳng vấn đề với chính quyền các quốc gia có doanh nhân đang đầu tư tại Việt Nam. Nghĩa là chúng ta cần vận động chính giới quốc tế lên tiếng yêu cầu các quốc gia Nam Hàn, Đài Loan… phải can thiệp để các doanh nhân của họ đối xử bình đẳng với công nhân Việt Nam, song song với nỗ lực tán phát các thông tin để giúp đồng bào cả nước biết rõ về các cuộc đình công cũng như gửi tới đồng bào và công nhân trong nước những thông điệp hỗ trợ từ người Việt hải ngoại và cộng đồng thế giới.

Lý Thái Hùng
11 tháng 1, 2006

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”