Về Bạch thư Quốc phòng 2015 của Trung Cộng

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 26/5 vừa qua, Dương Vũ Quân, phát ngôn nhân Bộ quốc phòng Trung Quốc đã tổ chức cuộc họp báo công bố tập Bạch Thư Quốc Phòng 2015, dưới tiêu đề “Chiến lược Quân sự của Trung Quốc” gồm có 6 chương, tổng cộng 9.000 chữ, đề cập đến 4 lãnh vực: Biển, Vũ trụ, Nguyên tử, Mạng Internet.

Bắt đầu từ năm 1998 và cứ 2 năm một lần, Bắc Kinh đã công bố Bạch Thư Quốc Phòng, trình bày một số quan điểm chiến lược về an ninh quốc phòng. Tính cho đến lần công bố này, Trung Quốc đã có đến 9 tập Bạch Thư. Riêng dưới triều đại Tập Cận Bình thì có 2 tập Bạch Thư được phổ biến vào năm 2013 và 2015.

Khác với những tập Bạch Thư Quốc Phòng trước đây, Bạch Thư 2015 được phổ biến trong bối cảnh căng thẳng quân sự giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ trên biển Đông và biển Hoa Đông nên nội dung đã có nhiều điểm mới, mang tính chất “sẵn sàng đối đầu” nếu “quyền lợi cốt lõi” của Bắc Kinh trên biển bị đe dọa.

Tập Bạch Thư nêu ra một số điểm như sau:

Thứ nhất, sứ mệnh của quân đội Trung Cộng trong tình hình hiện nay là thực hiện sứ mệnh lịch sử mới nhằm bảo vệ đảng, bảo vệ xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhất là bảo vệ “lợi ích đặc biệt về biển”.

Thứ hai, phương châm phòng thủ của quân đội là chuyển từ phòng thủ sang cả tấn công, một cách quyết liệt hơn, cứng rắn hơn. Lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ tập trung hơn nữa vào các hoạt động ngoài vùng biển khơi, thay vì chỉ bảo vệ lãnh hải gần bờ biển. Lực lượng không quân Trung Quốc sẽ chuyển hướng từ phòng thủ bầu trời sang hình thức cả phòng thủ lẫn tấn công.

Thứ ba, quân đội Trung Quốc có nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống vũ khí nguyên tử để không chỉ làm thất bại những tấn công chính xác tầm trung và tầm xa mà còn chống lại việc các quốc gia khác sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử.

Bạch Thư Quốc Phòng Trung Quốc nhận định rằng nguy cơ Thế Chiến Thứ 3 chưa có dấu hiệu bùng nổ trong một tương lai gần; nhưng những xung đột cục bộ có nhiều xác xuất xảy ra.

Trung Quốc đã công khai chỉ trích đích danh Hoa Kỳ và hệ thống liên minh quân sự với Hoa Kỳ sẽ là đầu mối gây ra những xung đột cục bộ.

Bắc Kinh cũng cho rằng sự thay đổi chính sách quân sự của Nhật Bản gần đây như sửa đổi Hiệp ước an ninh với Mỹ – Nhật, tăng cường hoạt động hải quân Nhật ở Biển Đông và nhất là những động thái quân sự của một số quốc gia có đường biên giới biển với Trung Quốc đang có hành động khiêu khích và đe dọa an ninh của Trung Quốc.

Qua những nội dung nói trên, rõ ràng là Bắc Kinh đang tự đặt chính họ vào hai cái lo:

Lo thứ nhất là họ đang ở vào thế chuẩn bị đối đầu với Hoa Kỳ, nếu tiếp tục ngoan cố mở rộng lãnh thổ trên các quần đảo Trường Sa đã xâm chiếm trái phép của Việt Nam và Phi Luật Tân.

Lo thứ hai là Bắc Kinh cũng đang sợ tứ bề thọ địch khi các đồng minh của Hoa Kỳ bao vây và cô lập Bắc Kinh vì những ý đồ bành trướng ra biển.

Chính những lo ngại này, trong Bạch Thư Quốc Phòng 2015, Bắc Kinh đã không ngần ngại tuyên bố việc tăng cường lực lượng hải quân và chuẩn bị chiến tranh quân sự trên biển.

Cũng trong ngày công bố Bạch Thư Quốc Phòng, Bắc Kinh cho biết sẽ xây dựng hai ngọn hải đăng cao 50 mét trên bãi đá Châu Viên (Cuateron Reef) và đảo Gạc Ma (Johnson South Reef). Đây là hai bãi đá mà Trung Cộng đã chiếm của Phi Luật Tân và Việt Nam.

Bạch Thư Quốc Phòng của Trung Quốc đưa ra đúng vào lúc nguy cơ xung đột quân sự trên vùng biển Trường Sa có thể xảy ra cùng với giọng điệu “chuẩn bị chiến tranh”, rõ ràng là Bắc Kinh đã có sự tính toán.

Đó là Bắc Kinh đã dùng Bạch Thư không chỉ thách thức Hoa Kỳ mà còn làm phép thử thái độ của CSVN trước khi Nguyễn Phú Trọng lên đường đi Mỹ vào cuối tháng 5/2015.

Riêng Phi Luật Tân thì Bộ trưởng Quốc Phòng Phi Voltaire Gazmin đã tức khắc bay sang Hoa Kỳ để có cuộc gặp gỡ với giới quân sự Hoa Kỳ vào ngày 27/5 tại Hawaii, bàn về chiến lược đối phó nếu xảy ra xung đột như Bắc Kinh cảnh báo.

Trung Điền
Ngày 26/5/2015

`

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.