Vì sao nhiều nước Đông Nam Á mua võ khí Nga?

Một chiến đấu cơ Su-30MK2 của Không Quân Việt Nam tại phi trường quân sự Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đây là máy bay do Nga sản xuất. Ảnh: STR/ AFP via Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cuộc xung đột võ trang giữa Nga và Ukraine hiện nay vừa làm gia tăng âu lo của nhân loại về hòa bình thế giới ba thập biên sau khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc trong thế kỷ trước, mà cũng vừa làm gia tăng mức độ sản xuất và mua bán võ khí khắp nơi, bởi vì nước nào cũng muốn tăng cường phòng thủ để đối phó với mọi tình huống bất ngờ, như chuyện Nga đột ngột tấn công Ukraine mà không cần dựa vào bất cứ lý do chính đáng nào.

Cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia Âu Châu hiện nay, không nhiều thì ít, cũng khiến cho thế giới phải hướng sự chú ý của mình về một điểm nóng khác, đó là vùng Biển Đông, nơi đang tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ chiến tranh giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là các quốc gia Đông Nam Á, như Việt Nam và Philippines, cùng các cường quốc hàng hải coi vùng biển này là hải lộ huyết mạch đi từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương.

Nga cung cấp võ khí nhiều nhất cho các quốc gia Đông Nam Á

Trong số các quốc gia cung cấp võ khí lớn cho thế giới, bao gồm Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Đức, và Trung Quốc, thì Nga được coi là nhà cung cấp lớn nhất cho nhiều quốc gia Đông Nam Á từ năm 2000 đến 2019, theo đài truyền hình Deutsche Welle của Đức hôm 6 tháng Tư.

Trong khoảng thời gian ba thập niên này, Nga bán cho các quốc gia Đông Nam Á một số lượng võ khí trị giá tới $10,7 tỷ, phần lớn là cho Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2021, Nga cũng bán cho Miến Điện một số lượng võ khí trị giá $247 triệu, cho Lào $105 triệu, và cho Thái Lan $47 triệu, theo một báo cáo của Viện Stockholm Nghiên Cứu Hòa Bình Thế Giới (Stockholm International Peace Research Institute – SIPRI).

Mới đây, hôm 9 tháng Ba, chính phủ Philippines cho hay họ sẽ tiếp tục thực hiện việc mua 17 chiếc trực thăng vận tải của Nga mà quốc gia Đông Nam Á này đã đặt hàng và trả tiền trước một phần rồi. Thương vụ này được dàn xếp từ lâu trước khi cuộc chiến tranh Nga-Ukraine nổ ra.

Theo phân tích gia Carl Thayer, giáo sư danh dự đại học New South Wales University của Úc, việc mua võ khí của Nga luôn là vấn đề “hết sức nhạy cảm,” ngay cả khi cuộc chiến tranh tại Ukraine chấm dứt đi nữa.

Bầu không khí chính trị quốc tế sẽ bị “ngộ độc” nếu Hoa Kỳ và các đồng minh Tây Phương gia tăng trừng phạt Nga về những tội ác chiến tranh tại Ukraine, cũng như bắt Nga phải bồi thường cho việc tái thiết đất nước này sau cuộc chiến. Một ví dụ là Liên Âu có thể sẽ cấm vận các nhà cung cấp võ khí cho chính quyền quân phiệt Miến Điện.

Năm 2017, tức là ba năm sau khi Moscow đem quân xâm chiếm rồi sáp nhập bán đảo Crimea vào Nga, Hoa Kỳ ban hành Đạo Luật Chế Tài Các Đối Thủ của Hoa Kỳ (Countering America’s Adversaries Through Sanctions Act – CAATSA) nhằm trừng phạt những chính phủ nào mua võ khí của Nga. Cũng vì sự ra đời của đạo luật này, hồi tháng Mười Hai, 2021, Indonesia quyết định hủy bỏ kế hoạch mua các máy bay chiến đấu Su-35 của Nga, thay vào đó là mua các chiến đấu cơ Rafales của Pháp.

Vì sao nhiều nước Đông Nam Á chọn mua võ khí Nga?

Có hai lý do nhiều nước Đông Nam Á chọn mua võ khí của Nga thay vì của Mỹ, của Pháp hoặc của Trung Quốc.

Thứ nhất, chính sách “đu dây” giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai kẻ kình địch chính tại Đông Nam Á hiện nay, khiến cho nhiều nước Đông Nam Á tính tới chuyện mua võ khí của Nga để khỏi làm mích lòng cả Washington lẫn Bắc Kinh.

Nếu các chính quyền tại Đông Nam Á mua võ khí của Mỹ thì điều này sẽ tạo nên mối hiềm khích với Trung Quốc, là chính quyền bị nhiều nước trong vùng nghi kỵ vì chủ trương bá quyền nước lớn của họ nhưng vẫn luôn nể sợ vì biết mình không đủ sức lực để kình chống với cường quốc khổng lồ này.

Thế thì, giải pháp tốt nhất cho các quốc gia đó là mua võ khí của Nga.

Một ví dụ điển hình là trường hợp của Việt Nam, khi quốc gia này biết rất rõ rằng mua võ khí của Mỹ, vào lúc này, chỉ tổ chọc giận Bắc Kinh mà thôi, mặc dù trong mấy năm gần đây, Hà Nội và Washington đã xích lại gần nhau hơn trên nhiều lãnh vực, kể cả lãnh vực an ninh.

Thứ nhì, võ khí của Nga vừa nổi tiếng “tàn độc” lại vừa hợp với túi tiền của các nước Đông Nam Á hơn là võ khí của Mỹ, đặc biệt là các trực thăng vận tải hay võ trang và các chiến đấu cơ cùng các hệ thống phòng không chống máy bay địch. Trong khi hầu hết các tổ hợp sản xuất võ khí của Nga đều được chính quyền tài trợ, các công ty sản xuất võ khí của Mỹ đều hoàn toàn do tư nhân quản lý và hoạt động nhằm thu lợi nhuận tối đa.

Trong trường hợp của Việt Nam, cho dù các lệnh cấm vận hàng hóa của Nga do Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương áp đặt có khắc nghiệt tới đâu đi nữa, chuyện chấm dứt mua võ khí Nga cũng rất khó thực hiện, chỉ vì đa số các chuyên gia quân sự của Việt Nam đều được Liên Xô (trước đây) hoặc Nga (hiện nay) huấn luyện kể từ thời Chiến Tranh Lạnh tới nay.

Ngay cả chuyện bỏ phiếu lên án việc Nga xâm lược Ukraine hoặc phạm tội ác chiến tranh chống nhân dân Ukraine tại Liên Hiệp Quốc mới đây cũng là điều Việt Nam không thể nào làm được.

Lối thoát nào cho các quốc gia Đông Nam Á đang mua và sử dụng võ khí Nga?

Giải pháp cho vấn đề các quốc gia Đông Nam Á mua võ khí của Nga, đặc biệt là những đồ phụ tùng thay thế cho các vũ khí đó, để rồi bị Hoa Kỳ và Liên Âu trừng phạt, phần lớn còn tùy thuộc vào chuyện cuộc chiến tranh Ukraine sẽ kéo dài bao lâu và chuyện các nước Tây Phương sẽ tiếp tục trừng phạt kinh tế nước Nga cho tới bao giờ.

Trong trường hợp của Việt Nam, Giáo Sư Thayer cho rằng quốc gia này có thể chọn ba giải pháp.

Một là tìm mua các món đồ phụ tùng đó từ các nước đang muốn thay thế võ khí Nga bằng võ khí của các nước khác, như của Pháp và Đức chẳng hạn.

Hai là họ cũng có thể cùng Nga đồng sản xuất các món võ khí và trang thiết bị do Nga chế tạo.

Thứ ba là họ cũng có thể quay sang Ấn Độ, nước đang được coi là nhà sản xuất và cung cấp võ khí có hạng tại Á Châu, để mua những thứ hàng hoá quân sự mà không phải sợ làm mích lòng cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc.

Nguồn: Người Việt

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”