Vì sao quốc hội CSVN phải hoãn Luật về Hội và Luật Biểu tình?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Không ngoài dự đoán của phần lớn giới quan sát độc lập, kỳ họp cuối năm 2016 của quốc hội CSVN đã “nhất trí cao” với đảng cầm quyền về việc chỉ thông qua Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo, trong khi hoãn 3 luật là Luật Về Hội, Luật Biểu Tình và Bộ Luật Hình Sự sửa đổi bổ sung.

Với Bộ Luật Hình Sự sửa đổi bổ sung, không ngạc nhiên lắm khi từ tháng 8/2016 đã bị phát hiện có đến hàng trăm sai sót, trong đó có những sai sót lớn và trở thành một bộ luật bị sai sót có tính lịch sử trong suốt chiều dài “làm luật” của quốc hội. Sau vụ scandal này, nhiều đại biểu và báo chí đã yêu cầu chính quốc hội phải tự tay soạn luật chứ không thể đẩy hết cho bên hành pháp như trước đây.

Trong khi đó, việc Luật Biểu tình bị hoãn thông qua được dư luận chung xem là điều tất nhiên. Tình hình hiện thời ở Việt Nam được đa số cơ quan quản lý nhận xét là “chưa phù hợp” hoặc “không thuận lợi” để ban hành Luật Biểu tình.

Từ đầu năm 2015 đến nay, đã có ít nhất 3 lần Luật Biểu tình bị các cơ quan chức năng của Chính phủ đề nghị hoãn trình và hoãn thông qua, trong đó 2 lần thuộc về Bộ Công an – cơ quan có chức năng “đàn áp biểu tình” nhưng từ năm 2011 lại được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì soạn dự luật thiết thân quyền dân này.

Sau cuộc biểu tình bảo vệ môi trường của dân chúng Sài Gòn và Hà Nội vào tháng 5/2016, đáng chú ý là đã xuất hiện vài tín hiệu trong nội bộ đảng và quốc hội về khả năng “cần sớm ban hành Luật Biểu tình”, với lý do đơn giản là “phải có luật để quản nó” (ý nói quản người biểu tình). Tuy nhiên sau đó luồng ý kiến này vẫn không được “tập thể lãnh đạo” chấp nhận. Đơn giản là chẳng có một lãnh đạo nào dám đứng mũi chịu sào về việc trình và chỉ đạo thông qua Luật Biểu tình. Có dư luận cho biết những lãnh đạo này sợ rằng nếu có Luật Biểu tình chính thức, người dân sẽ xem đó là cơ sở pháp lý để khuếch trương hoạt động biểu tình, càng khó cho công tác quản lý, và càng khiến lung lay chân đứng chế độ.

Cũng bởi thế, sau những cuộc biểu tình liên tục của giáo dân – ngư dân miền Trung phản đối Formosa trong nửa cuối năm 2016 mà bất cần đến việc có hay không Luật Biểu tình, dự luật Biểu tình đã chính thức bị xếp xó thêm một lần nữa.

Với Luật về Hội, dự luật này đã suýt được thông qua ngay đầu kỳ họp quốc hội vào cuối tháng 10/2016. Tuy nhiên nội dung khi đó của Luật về Hội lại mang tính “siết” về nhiều vấn đề, khác hẳn với bản dự thảo tháng 10/2016, đến mức một luật sư nhân quyền là ông Trần Vũ Hải phải cảnh cáo dự luật về Hội này là “luật phản động”. Chỉ ngay sau cuộc gặp Đinh Thế Huynh – John Kerry tại Washington vào buổi sáng ngày 25/10/2016, đến cuối giờ chiều ngày hôm đó (giờ Việt Nam) dự luật về Hội mới bất ngờ được ông Lê Vĩnh Tân – Bộ trưởng của Bộ Nội vụ, cơ quan về danh nghĩa là “chủ trì soạn thảo dự luật về Hội – nêu trước quốc hội: “Thừa nhận việc chuẩn bị dự án luật chưa được chu đáo, và vì còn nhiều ý kiến khác nhau về dự thảo Luật nên cần có thời gian chuẩn bị tiếp để trình Quốc hội tại kỳ họp sau, tạo sự đồng thuận cao mới thông qua Luật”.

Dù sao, việc Quốc hội quyết định không thông qua Luật về Hội tại kỳ họp cuối năm 2016 cũng là một dấu hiệu cho thấy chủ trương “Việt Nam luôn quan tâm và bảo đảm quyền con người” chưa đến nỗi quá tệ: nếu thông qua với nội dung siết bức, Quốc hội sẽ phải tiếp nhận vô số phản ứng từ cộng đồng dân chủ và có thiện cảm với dân chủ trong nước, đồng thời gây bất lợi không nhỏ về kinh tế, ngoại giao và cả chính trị cho chế độ một đảng Việt Nam trong quan hệ với các nước phương Tây.

Lê Dung / SBTN

Nguồn: SBTN

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”