Hồng phúc dân tộc

Ông Lê Đức Anh, cựu Chủ tịch nước CHXHCNVN được thông báo qua đời hôm 22/4/2019. Ảnh: PLO
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cuối cùng thì ông Chột cũng chết. Cũng giống như ông Hồ, ông chết chẳng đúng lúc. Vì chỉ mấy hôm nữa là ngày “lễ lớn” của chế độ và một điều quan trọng hơn là ông Tổng Tịch đang “thập tử nhất sinh”, phải điều trị tích cực nửa tháng nay nên ông Chột đành nằm ngăn lạnh ướp đá, đợi “người dẫn đường vĩ đại” hồi phục sức khỏe, tổ chức quốc tang, tiễn ông về sum họp cùng với ông Hồ, cụ Marx. Trộm nghĩ, ngộ nhỡ, ông Tổng Tịch có mệnh hệ gì, không biết đến bao giờ ông Chột mới được nằm nghỉ ngơi ở cái sinh phần to lớn đã chuẩn bị sẵn ở quê nhà?

Thế mới thấy, người cộng sản thật chẳng giống ai. Bọn dân đen độc mồm xì xầm “không khéo ông Tổng cũng đã tịch hẳn rồi”. Kể nếu có dậy được mà đến đưa ông Chột về nơi “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, thì chẳng mấy hồi cũng đi “tàu ngầm sáu tấm”. Coi như sinh mệnh chính trị của ông Tổng Tịch cũng đã chấm hết. Đúng là người tính không bằng Trời tính. Định mệnh luôn có sự sắp đặt bất ngờ, đầy ẩn ý sâu cay.

Thường thì khi chuẩn bị tang sự cho một nguyên thủ của chế độ, người ta thường đăng tiểu sử, sự nghiệp của vị đó. Toàn là những tấm gương “cách mạng” sáng ngời, nhà lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc cả. Nhưng người dân cũng tìm hiểu tiểu sử của các vị, theo đánh giá, nhận định riêng, chứ không phải theo thứ diễn ngôn “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Ông Chột cũng có một tiểu sử như vậy. Xin được đăng lại đầy đủ từ một Facebooker trong nước:

“Lê Đức Anh – Tên thật là Lê Văn Giác, sinh năm 1920, dân làng Truồi, cái làng chuyên làm bánh bột lọc ở xứ Huế. Bị chột từ nhỏ, nhà nghèo khó, năm 1939, Giác đi vô Lộc Ninh làm phu cạo mủ cao su. Sau này, Giác khai là gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1938 là khai man. Nhờ có tí học vấn từ người cha là “thày khóa Túy” – đỗ trường Nhì – nên Giác được ông Phạm Văn Mến, chủ đồn điền Givral cho làm Cai (Surverllant). Cái tên “thày Sú Chột” có từ đó.

Cô Phạm Thị Anh, con ông chủ Mến, có cảm tình với Giác, rồi họ nên duyên. Ông nhạc của Giác, vốn dân Pháp tịch, có 8 con, bà Anh là con thứ 6, nên còn gọi là bà Bảy Anh. Giác có người anh vợ, Phạm văn Trọ, nguyên tham tán hạng nhất của Sở Mật Thám Đông Dương. Sau này Lê Văn Giác theo Việt Minh, lấy tên hoạt động là Lê Đức Anh, thực ra là lấy theo tên vợ.

Lê Đức Anh khéo nịnh, được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ tin dùng, được bổ làm Tham mưu trưởng Nam Bộ. Sau 1954, tập kết ra Bắc, Lê Đức Anh tuyên bố bỏ người vợ gốc địa chủ. Lê Đức Thọ liền gá bà Võ Thị Lê cho Lê Đức Anh. Bà Võ Thị Lê vốn là vợ bé của ông Huỳnh Ngọc Huệ.

Có Duẩn và Thọ đỡ đầu nên quan lộ của Lê Đức Anh rất mát mái, lên đến chủ tịch nước. Khốn nỗi, Duẩn – Thọ chống Tàu mà Lê Đức Anh hàng Tàu. Lê Đức Anh về hưu nhưng quyền lực khuynh loát. Lê Khả Phiêu sau này bị hạ bệ vì phật lòng Đỗ Mười và Lê Đức Anh.

Thời Pháp, Lê Đức Anh theo chủ đồn điền Pháp. Thời Việt Minh, Lê Đức Anh a dua theo Duẩn, Thọ. Để rồi sau đó lại theo Tàu… Một đời a dua, xu thời, bội phản, bất nhân, hèn với giặc, ác với dân, coi mạng lính như cỏ rác. Tuy leo đến tột đỉnh quyền lực nhưng xú danh muôn thủa.”

Cuối cùng thì ông Chột cũng chết, thọ 99 tuổi. Chẳng biết cái tấm bia công đức mà chế độ này tạc cho ông Chột sẽ tồn tại lâu hơn cái bia miệng đời hay không? Nhưng thôi, lịch sử sẽ phán xét phân minh, còn bây giờ, chắc chắn là sẽ có quốc tang hoành tráng. Mấy bữa trước thấy điện, xăng đồng loạt tăng giá điên cuồng mà không có quốc tang, khiến cho dân tình hụt hẫng. Giờ thì đã có một cái đám ma to, mà nếu là trùng tang thì mới thật sướng. Cho hả hê bớt cái hờn căm của dân chúng ngày một è cổ nuôi một chế độ tham tàn, bất nhân nhất từ trước tới nay. Chợt nhớ cái cái giọng vừa não nề, vừa cay nghiệt của bà bán hủ tiếu ngoài đầu hẻm:

“Tiên sư nhà chúng nó, bảo là tăng giá điện có 8,3%, mà hóa đơn tăng gấp đôi. Tháng trước có 300 ngàn tiền điện, tháng này hơn 500 ngày. Đúng là bọn ăn cướp, ăn hết máu … của dân. Nóng thế này mà chúng nó cứ tăng giá điện, gas, xăng. Sống sao nổi hả Trời. Chết thằng nào thì chết đi, đỡ thằng đó. Chết hết được một lượt thì tốt biết mấy. Giời ơi là giời.”

Truyền thống của người Việt ưa việc thiện lành, coi “nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng có những kẻ mà khi nằm xuống thì lại là “hồng phúc” của dân tộc thực sự. Trời còn thương dân Việt, năm nay đảng và nhà nước được mùa “quốc tang”.

Tân Phong

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…