Cai trị bằng công lý hay bằng sợ hãi?

Đại biểu Quốc hội, Thiếu tướng Công an Nguyễn Thị Xuân (đoàn Đắk Lắk) đề xuất tăng mức phạt tiền vi phạm giao thông lên đến 200 triệu đồng, tháng 5/2025. Ảnh: Người Lao Động
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thỉnh thoảng những đề xuất của các đại biểu ở Quốc hội Việt Nam vẫn làm người dân ngỡ ngàng. Bởi những tuyên bố hay giới thiệu ý tưởng của họ thường xa rời đời sống, xa con người… mà các đại biểu “không dân cử” này, lên tiếng chủ yếu như tìm chỗ đứng gần với chính sách hơn, bày tỏ sự nhiệt thành với hệ thống, chứ không phải đại diện cho con người Việt Nam.

Tháng 5/2025, Đại biểu Nguyễn Thị Xuân (đoàn Đắk Lắk) đề xuất rằng nên tăng mức phạt giao thông lên đến 200 triệu đồng, vì bà cho rằng mức xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ theo luật hiện hành chưa đủ mạnh để răn đe.

Hiện mức phạt tối đa của việc vi phạm giao thông là 75 triệu đồng. Tức gần bằng một năm tiền lương trung bình của một người lao động Việt Nam. Bà Xuân nói cần nâng lên mức 200 triệu đồng, hơn gấp đôi, với lý do mà bà Xuân đưa ra là phạt nặng như vậy mới đủ mức “răn đe” và phạt nặng thì mới “nâng cao ý thức” của người dân.

Dĩ nhiên, tuyên bố này của bà Xuân gây nhiều tranh luận. Chẳng hạn, có không ít thắc mắc là, dựa trên nghiên cứu nào mà bà thiếu tướng công an, phó giám đốc công an Đắk Lắk khẳng định chính xác là mức phạt 200 triệu sẽ đủ răn đe? Và “xây dựng ý thức” trong dân bằng tiền phạt nặng không tưởng, có phải tên gọi khác của nó là cai trị bằng sợ hãi, chứ không coi nhân dân là đối tượng để đối thoại và xây dựng một chính sách văn hóa đời sống quốc gia lâu dài?

Không có giải pháp đúng, hợp lòng dân, đồng nghĩa là quan trường lập pháp bất lực và thất bại. Và thất bại, thì không thể chọn thay thế bằng biện pháp khắc nghiệt vô luân.

Dùng roi vọt, hình phạt hà khắc để tạo “ý thức,” là hành động dễ thấy của tầng lớp quan lại thời hiện đại hôm nay, vốn êm ấm trong vị trí và chọn quay lưng lại với nhân dân. Họ thích lên giọng vỗ về chính sách, hay nói trắng là trơ trẽn xu nịnh để làm lộ sáng chỗ đứng như tự giới thiệu về một bầy tôi trung thành và quyết liệt.

Một chính quyền thật sự vì dân, thì sẽ chẳng để tâm hay lắng nghe những ngôn luận xuôi chiều rác rưởi không có gương mặt con người đó. Vì loại ngôn luận thuần bợ đỡ đó, là thuốc độc của một quốc gia, và có thể là nền tảng khởi đầu của mọi sụp đổ trong một thời đại, nếu được trọng dụng.

Thời Chiến Quốc, khi các quốc gia tranh đoạt, nhà Tần muốn xây dựng một chính quyền trung ương mạnh, cai trị dân bằng kỷ luật thép, đã dễ dàng thuận theo các đề xuất của lớp quan lại xu nịnh, luôn đưa ra những hình luật gây hoảng sợ trong dân chúng. Từ đó hình thành Pháp gia, do Hàn Phi Tử, Thương Ưởng… luôn chọn quỳ gối, hô to đề xuất dùng pháp luật nghiêm khắc để cai trị, bất cần nhân nghĩa. Quan điểm cốt lõi là: “Dân ngu dễ trị, người trung là kẻ đáng nghi.”

Trích dẫn từ Hàn Phi Tử, loại ngôn từ “nâng cao ý thức” cho người dân, có viết: “Bề tôi chỉ cần biết phục tùng, chứ không cần tranh luận đúng sai với quân vương.” Hình phạt càng nặng, dân càng sợ thì quan và vua mới oai phong lẫm liệt trong cai trị hồ đồ.

Hệ quả thì đã thấy bằng giá trị lịch sử: Triều đại nhà Tần dưới Tần Thủy Hoàng – được coi là hùng mạnh vô song – đã áp dụng triệt để sự áp đặt, dẫn đến chính sách hà khắc, nghe lời tấu của các loại quan lại khinh dân, dẫn đến đốt sách chôn nho, làm bá tánh oán thán, và rồi sụp đổ nhanh chóng chỉ sau 15 năm.

Thời đại mông muội và mạt vận bắt đầu, khi trí thức và quan lại giỏi biến triết lý thành công cụ phục vụ quyền lực thay vì phục vụ chân lý, đánh mất đi giá trị của trí thức soi sáng xã hội. Thay vào đó, tranh nhau nói xuôi chiều, họ trở thành “bồi bút của bạo lực,” khiến nhân dân bị áp bức kéo dài dưới danh nghĩa chính danh, đạo đức, và ý chí của lãnh đạo.

Pháp luật tốt nhất để “nâng cao ý thức,” là pháp luật để người dân tâm phục, chứ không phải để quy chụp và gây sợ hãi trong quốc gia. Nền văn minh thế giới đã chỉ rõ hai con đường quản lý xã hội: trị dân bằng công lý, hoặc trị dân bằng sợ hãi. Và bất cứ khi nào cán cân nghiêng về phía sau – tức khi quyền lực chọn con đường trừng phạt thay vì giáo dục, răn đe thay vì cải hóa – thì chính quyền ấy sớm muộn cũng đánh mất lòng dân, dẫn tới suy vong.

Việc cường quyền, đề nghị tăng mức phạt vi phạm giao thông lên đến 200 triệu đồng, không chỉ là một con số vô lý với người dân, mà còn phản ánh một loại tư duy quản lý hà khắc, xa rời đời sống thực tế, nguy hiểm hơn: có khả năng đẩy luật pháp trở thành công cụ gây oán chứ không tạo được tâm phục.

Nếu mức phạt 200 triệu đồng được áp dụng, có thể thấy rõ là cùng một lỗi vi phạm, người nghèo gánh hậu quả nặng gấp nhiều lần người giàu. Pháp luật lúc này không còn là công cụ công lý, mà là một gánh nặng bất công. Nhiều quốc gia văn minh – như Thụy Sĩ, Phần Lan – đã phạt giao thông theo thu nhập cá nhân, để đảm bảo công bằng thực chất. Một triệu phú Thụy Sĩ từng bị phạt gần 300.000 USD vì chạy quá tốc độ – không phải vì nhà nước muốn tịch thu tiền cho ngân sách, mà vì pháp luật phải có giá trị răn đe công bằng cho mọi tầng lớp.

Quốc hội – không cần nói ra – thì ai cũng biết là nơi để thể hiện sức sống, khó khăn và nguyện vọng của người dân, chứ không phải lớp người như bà Nguyễn Thị Xuân, chỉ đến Quốc hội và đánh trống thổi kèn theo nghị quyết, tốn kém cho tiền thuế dân mà không có giải pháp nào xứng đáng hơn là chỉ tái hiện một tư duy của tầng lớp quan lại xa dân, từng xuất hiện trong lịch sử, với đầy những sụp đổ và oán thán.

Bất chợt ngẫm nghĩ, bà Nguyễn Thị Xuân đã từng có đề xuất nào răn đe, nâng cao ý thức cho giới quan chức tham nhũng, sai phạm đang được giảm án ngày càng nhiều, so với dân thường? Hay cụ thể, bà đã có ý kiến gì chính trực trong chuyện ông đồng nghiệp tướng công an Đỗ Hữu Ca được đặc xá, về nhà khi chưa ngồi tù được 1/3 bản án đã tuyên?

Tuấn Khanh

Nguồn: FB Khanh Nguyen

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”