Đối chiếu thanh trừng chính trị: Cách mạng Iran 1979 và Việt Nam sau 1975

Ảnh minh họa: Youtube TDGS
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lê Bá Vận

Khi một thể chế quyết tâm tiêu diệt đối kháng hơn là hòa hợp dân tộc sẽ gây ra rạn nứt về mặt xã hội và sự tụt hậu về kinh tế do chảy máu chất xám

Sự kiện xung đột bùng nổ giữa liên quân Mỹ – Israel và Iran vào đầu năm 2026 đã đưa Tehran trở lại tâm điểm trên toàn thế giới hàng ngày, hàng giờ. Những hồi ức về lịch sử, chính trị của Iran cũng như thể chế hiện hành được nhìn nhận trái ngược từ hai luồng ý kiến của chính người Việt.

Dù có ý kiến gì, cũng không thể phủ nhận rằng cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran 1979 có nhiều điểm tương đồng với  những ngày sau biến cố 30/4/1975 trong việc củng cố quyền lực thông qua thanh trừng và cải tạo tư tưởng của các thế lực cầm quyền.

1. Cách mạng Hồi giáo Iran 1979

Trước năm 1979, Iran dưới triều đại Pahlavi là một đồng minh then chốt của phương Tây tại Trung Đông. Tuy nhiên, sự bất mãn về bất bình đẳng xã hội và sự xa lạ về văn hóa đã dẫn đến cuộc cách mạng đưa Giáo chủ Ruhollah Khomeini về nước, thiết lập chế độ Cộng hòa Hồi giáo dựa trên luật Sharia.

Các cuộc thanh trừng đẫm máu:

– Tiêu diệt chế độ cũ: Ngay sau chiến thắng, “thẩm phán treo cổ” Sadegh Khalkhali đã điều hành các tòa án cách mạng, xử tử hàng trăm tướng lĩnh và quan chức dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi.

– Thanh lọc đồng minh: Sau khi nắm quyền, phe Hồi giáo cực đoan quay sang tiêu diệt các nhóm cánh tả (đảng Tudeh) và các tổ chức thế tục từng sát cánh trong cách mạng nhưng khác biệt về ý thức hệ.

– Cách mạng Văn hóa (1980-1982): Đóng cửa các trường đại học để “tẩy não” và loại bỏ giới trí thức có tư tưởng phương Tây.

–  Năm 1988: Khoảng 4.000 đến 5.000 tù nhân chính trị bị hành quyết chỉ trong vài tuần – một sự kiện được Tổ chức Ân xá Quốc tế định danh là “tội ác chống lại loài người.”

Khomeini coi nhẹ vật chất, tuyên bố nổi tiếng rằng “Kinh tế là dành cho những con lừa.” Hệ quả là tỉ lệ nghèo đói tăng 45% và dẫn đến làn sóng di cư của hơn 2 triệu chuyên gia, trí thức Iran ra nước ngoài.

2. Việt Nam sau 1975: Thanh trừng cả chính trị và kinh tế

Nếu Iran thực hiện thanh trừng bằng các bản án tử hình nhanh chóng, thì tại Việt Nam sau năm 1975, chính quyền mới áp dụng một chiến lược kết hợp giữa giam cầm tư tưởng và triệt hạ nguồn lực kinh tế của người dân miền Nam.

Học tập cải tạo

Khác với việc hành quyết công khai quy mô lớn ở Iran, chính quyền Việt Nam tập trung hơn 1.000.000 người từng là lính, công chức và trí thức chế độ Việt Nam Cộng Hoà vào các trại cải tạo.

Khoảng 165.000 người đã thiệt mạng do suy dinh dưỡng, bệnh tật và lao động khổ sai trong các trại này. Đây không chỉ là trả đũa mà là “nhồi sọ” kéo dài. Vì tin lời nói chỉ bị gom lại đi học tập trong 3 ngày, họ ra trình diện và 3 ngày kéo dài thành 17-19 năm!

Đánh tư sản

Miền Nam sau 1975 trở thành một “chiến lợi phẩm” toàn diện cho bên thắng cuộc. Thông qua các chiến dịch X-2 và X-3, chính quyền đã thực hiện bước đi “nhất võng đả tận” (tóm gọn một mẻ lưới):

– Tịch thu nhà cửa, hãng xưởng của các nhà tư sản và cả các tiểu thương nhỏ.

– Đổi tiền và đóng băng tài khoản ngân hàng, khiến tài sản của người dân miền Nam bốc hơi trong chốc lát.

– Buộc hàng chục ngàn hộ gia đình đi “Kinh tế mới” tại các vùng hoang sơ, thực chất là một hình thức lưu đày kinh tế.

– Chiếm đoạt nhà cửa, tài sản của những người chọn đi di tản hay vượt biên để tránh bị đàn áp từ chính quyền mới.

3. Việt Nam – Iran tuy xa mà gần

Mặc dù dựa trên hai hệ tư tưởng khác biệt  của Hồi giáo cực đoan và chủ nghĩa Marx vô thần,  nhưng cả hai cuộc cách mạng đều vô cùng tàn bạo trong giai đoạn chuyển tiếp quyền lực.

Nếu Iran “thực thà” trong khi cho xử tử trực tiếp bằng luật Sharia, thì tại Việt Nam, sự tiêu vong thâm độc diễn ra âm thầm thông qua các trại cải tạo và gần nửa triệu thuyền nhân bỏ mình trên biển cả khi tìm đường vượt biên.

Câu nói được cho là của cố Tổng bí thư (ĐCSVN) Đỗ Mười đã cho thấy bên thua cuộc khi đó đã bị đối xử khắc nghiệt đến như thế nào.

“Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn.”

Lời kết

Lịch sử của Iran 1979 và Việt Nam 1975 để lại một bài học đắt giá về sự hận thù dân tộc và cái giá của những cuộc thanh trừng. Khi một thể chế ưu tiên việc tiêu diệt đối kháng hơn là hòa hợp dân tộc sẽ gây ra rạn nứt về mặt xã hội và sự tụt hậu về kinh tế do chảy máu chất xám.  Tất cả đều là những hệ quả  của các chính sách cực đoan trong quá khứ của chế độ cầm quyền và hệ quả đó còn kéo dài cho tới tận hôm nay.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.