Chu Hảo bỏ đảng và con đường Phan Châu Trinh

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đúng như dự đoán và mong đợi, Chu Hảo đã tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam bằng một lá thư thẳng thắn, rõ ràng và đầy đủ. [1]

Thẳng thắn ở chỗ ông không ngần ngại khẳng định tổ chức chính trị mà ông tham gia 45 năm trước – Đảng Cộng sản Việt Nam – đã “không có tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuất tất, ngày càng thoái hóa, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại.”

Rõ ràng ở chỗ ông chỉ ra có một kế hoạch gần 10 năm nhằm triệt hạ ông, bất chấp mọi ý kiến của cấp ủy cơ sở, phớt lờ mọi nguyên tắc dân chủ được tuyên xưng, chỉ nhằm đưa ra một bản cáo trạng mà ông cho là “vô căn cứ và thâm độc.”

Cuối cùng, lá thư đầy đủ ở chỗ, và cũng là điểm thú vị nhất, khẳng định nguyên nhân sâu xa mà Chu Hảo từ bỏ đảng cộng sản, chẳng phải vì bản án kỷ luật vớ vẩn, mà bởi ông nhận thấy ánh sáng từ một con đường khác, thông qua một con người khác.

Con đường đó là “dân tộc, dân chủ và phát triển” bằng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Con người đó là Phan Châu Trinh.

Và đây có lẽ chính là điểm gặp nhau giữa Chu Hảo và những người bỏ đảng khác như Nguyên Ngọc, Mạc Văn Trang – họ từ bỏ một con đường đơn giản là vì nhìn thấy một con đường khác sáng rạng hơn cho tiền đồ dân tộc.

Mà đã nhắc tới Phan Châu Trinh trong câu chuyện này thì thật khó để không liên tưởng tới lá thư [2] gần trăm năm trước Phan Châu Trinh từ Marseille gửi Nguyễn Ái Quốc – người sau này sáng lập ra cái đảng mà Chu Hảo vừa từ bỏ.

Trong thư, Phan Châu Trinh khuyên Nguyễn Ái Quốc nên từ bỏ lối “nương náu ngoại bang để rung chuông, gõ trống” mà phải trở về “ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế.”

Không tranh cãi với Nguyễn Ái Quốc việc chủ nghĩa Mác-Lê là đúng hay sai, song Phan Châu Trinh tin tưởng mãnh liệt vào lựa chọn của mình, “dựa vào lý thuyết nhân quyền để cổ động sĩ khí dân tình”, “kết đoàn hợp xã, dân tình thức tỉnh, kháng thuế cự sưu, tố giác tham quan lại nhũng, lại bất hợp tác từ cái này đến cái nọ, đến chừng đông tay vỗ nên tiếng mà đoạt lại lợi quyền.”

Và đáng quý thay, ngay cả khi biết trước nhiều rủi ro sẽ đến với mình vì nhà cầm quyền sẽ “vin cớ này, cớ nọ để mà làm tội làm tình”, Phan Châu Trinh vẫn chấp nhận với niềm tin “chẳng may mà bị sa cơ, thế tất chẳng có người nối tiếp mình thức tỉnh nhân quần; bằng cái lối đó, chắc là cuồn cuộn dâng lên, rồi một ngày kia khác nào như ngọn thủy triều lôi cuốn mất cường quyền áp chế.”

Cuối thư, Phan Châu Trinh hẹn Nguyễn Ái Quốc “thấy mặt nhau ở quê hương xứ sở.”

Lịch sử dẫn những lối thật bất ngờ. Nguyễn Ái Quốc, vô tình hay hữu ý, đã làm giống lời khuyên của Phan Châu Trinh, trở về Việt Nam, ẩn nơi núi rừng, hô hào quốc dân, để rồi vạch một con đường cho dân tộc Việt Nam dưới bóng đảng cộng sản mà ông góp công sáng lập.

Phan Châu Trinh ba năm sau đó về lại Việt Nam để rồi mãi mãi nằm lại Sài Gòn trong một quốc tang thực thụ đầu tiên và duy nhất của người Việt. Ông đã không thấy mặt Nguyễn Ái Quốc như lời hẹn cuối thư, và lại càng chẳng thể “gặp” Hồ Chí Minh ở bất kỳ nơi đâu trên đường tìm lối thăng tiến cho dân tộc.

Không hội ngộ cố nhân nhưng có lẽ Phan Châu Trinh giờ đây sẽ ngạc nhiên lắm nếu “thấy mặt” biết bao người đang “nối tiếp mình thức tỉnh nhân quần” đúng như lời dự đoán. Trớ trêu, và cũng thú vị thay, rất nhiều người trong số đó, như Nguyên Ngọc, Chu Hảo, và còn nhiều người khác nữa, đã, đang và sẽ đến với Phan Châu Trinh sau khi bước qua và từ bỏ cả con đường lẫn tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra và sáng lập.

Cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh giữa hai hướng đi, một vạch lối bởi Nguyễn Ái Quốc, một phác thảo bởi Phan Châu Trinh, sẽ còn định hình đường nét của quê hương xứ sở tương lai tới đây.

Nguyễn Anh Tuấn


[1] Toàn văn Tuyên bố Từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam của Chu Hảo
https://bit.ly/2PsDzoW

[2] Thư PCT gửi NAQ 1922
https://nghiencuulichsu.com/2016/05/16/thu-gui-nguyen-ai-quoc-cua-phan-c…

Nguồn: RFA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”