Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979: Tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc

Một đơn vị pháo binh quân đội Việt Nam đang tác xạ trong cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979. Ảnh: AFP
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Khi xem xét và nghiên cứu các tài liệu lịch sử thì cho chúng ta thấy rất rõ ràng là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc kể từ năm 1950 cho tới nay về bản chất cũng như thực chất là quan hệ giữa đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) và đảng Cộng sản Trung Quốc (CSTQ). Và cuộc xâm lược biên giới phía Bắc của Việt Nam vào năm 1979 thực chất là cuộc chiến tranh giữa đảng CSVN và đảng CSTQ, mà Nhân dân và bộ đội của hai nước vừa là công cụ và là nạn nhân của sự điên rồ của hai đảng CSVN và CSTQ.

Lúc đó bộ máy tuyên truyền của CSVN gọi CSTQ là bọn bành trướng, bá quyền. Còn CSTQ gọi CSVN là bọn tiểu bá vì lúc đó CSVN tấn công cộng sản Campuchia (Khmer Đỏ).

Tại sao tôi lại nói đó là cuộc chiến tranh giữa CSVN và CSTQ?

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều bị cai trị bởi sự độc đoán và chuyên quyền của đảng CSVN và đảng CSTQ. Nhân dân hai nước bị hai đảng CS tước đoạt tất cả các quyền tự do và dân chủ. Nhân dân hai nước không có quyền để tham gia lựa chọn hay quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như thể chế chính trị, kinh tế, quan hệ đối nội, đối ngoại, chiến tranh hay hòa bình,…

Đảng CSVN và đảng CSTQ quyết định và định đoạt mọi công việc, mọi chính sách trong nước cũng như quan hệ quốc tế theo những cuồng vọng điên rồ của họ mà họ chẳng cần quan tâm đến sự an nguy hay mong muốn của Nhân dân. Nhân dân chỉ có nghĩa vụ phục tùng và làm theo. Ai phản đối hay chống đối thì bị vu cho là “phản động” và bị bắt cầm tù.

Thời điểm đó giữa CS Liên Xô và CS Trung Quốc đã trở mặt từ bạn thành thù được gần 20 năm. Hai đảng CSLX và CSTQ đang cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt với nhau trên bình diện quốc tế. Khi đảng CSVN chọn CS Liên Xô làm bạn, và coi đảng CSTQ là kẻ thù. Đảng CSVN quyết định dùng quân đội tấn công CS Campuchia đã tạo nên một phần lý do dẫn tới việc đảng CSTQ dùng quân đội xâm lược Việt Nam. Và theo tuyên truyền của đảng CSTQ và cũng là thực chất của cuộc chiến đó là “đảng CSTQ dạy cho bọn tiểu bá CSVN một bài học.”

Và hiển nhiên Nhân dân và đất nước Việt Nam trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của bài học mà đảng CSTQ muốn dạy đảng CSVN.

Hậu quả của cuộc chiến tranh ngắn ngủi đó là khoảng 30 ngàn dân thường và binh lính Việt Nam thiệt mạng, tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn, cơ sở hạ tầng của 6 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam bị phá hủy hoàn toàn.

Chưa kể trong hơn 10 năm CSVN chiếm đóng tại Campuchia, đã có khoảng 200 ngàn binh lính Việt Nam hy sinh tại đó, hàng trăm ngàn binh lính bị thương tật vĩnh viễn. Nền kinh tế và nguồn lực của Việt Nam bị vắt kiệt trong suốt thời kỳ đó. Nhân dân đói khổ lầm than.

Trong các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, tất cả đều do mâu thuẫn giữa các đảng CSVN với đảng CSTQ.

Rất nhiều các cựu quan chức ngoại giao của CSVN và các nhà nghiên cứu lịch sử đã đưa ra nhận định rằng đất nước và Nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể tránh được cả hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc nếu sau 30 tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền cộng sản VN lúc đó không ngông cuồng và ngạo mạn, đồng thời lựa chọn cho đất nước và dân tộc Việt Nam một thể chế chính trị dân chủ và có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp với phương Tây.

Nhưng bản chất của CSVN là vậy, dùng bạo lực để cướp chính quyền bằng mọi giá, khi đã cướp được chính quyền thì tước đoạt mọi quyền lực của Nhân dân và áp đặt sự cai trị chuyên chế, tiêu diệt và triệt tiêu mọi thành phần đối kháng trong xã hội.

Để kết thúc bài viết này, một lần nữa tôi khẳng định rằng cuộc xâm lược của Trung Quốc vào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979 thực chất là cuộc chiến của đảng CSVN và đảng CSTQ. Trong đó quân đội và Nhân dân hai nước vừa là công cụ vừa là nạn nhân của cuộc chiến tranh đó. Những mất mát, hy sinh của quân đội và Nhân dân hai nước là do tội ác của đảng Cộng sản VN và đảng CSTQ gây ra.

LS Nguyễn Văn Đài

Nguồn: RFA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”