Doanh nghiệp ở Việt Nam lo thiếu nhân lực lao động

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Theo phúc trình của Tổng Cục Thống Kê, gần 13 triệu người lao động ở Việt Nam mất việc hoặc giảm giờ làm do làn sóng dịch thứ tư. Tuy nhiên, điều nghịch lý là nhiều doanh nghiệp lại không thể tìm đủ nhân công để vực dậy sản xuất.

Tình trạng thiếu nhân lực lao động đang diễn ra ở hầu hết ở các ngành nghề từ thủy sản, chế biến nông sản, đồ gỗ…

Theo báo Lao Động, việc phục hồi sản xuất của nhiều doanh nghiệp thủy sản đang bị ảnh hưởng rất lớn bởi vì nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề thiếu nhân lực lao động do nhiều công nhân chưa được chích vaccine nên chưa thể đến cơ sở sản xuất, nhiều người đã về quê, đang cách ly, hoặc đang điều trị COVID-19…

Ông Nguyễn Hoài Nam, phó tổng thư ký Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam (VASEP), cho biết với những nhà máy có thể thực hiện sản xuất thì cũng chỉ huy động được khoảng từ 20% đến 30% công nhân, nhiều nhất là 50%.

“Ước tính trên 300.000 lao động trực tiếp tại các nhà máy chế biến thủy sản đã mất việc làm, và ít nhất số lượng tương tự cho các lực lượng lao động trong chuỗi sản xuất thủy sản liên quan bị tác động theo,” ông Nam cho biết.

Ông Lê Văn Quang, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị tập đoàn Thủy Sản Minh Phú, cho biết cụ thể đến thời điểm hiện tại đã có 94,5% công nhân của công ty được chích vaccine mũi nhất, đồng thời công ty cũng đã thực hiện “xanh” nhà máy sản xuất nhưng việc phục hồi sản xuất vẫn khó khăn do đứt gãy nguồn cung lao động. Nguyên nhân do nhiều công nhân về quê tránh dịch, còn một số e ngại dịch bệnh nên chưa muốn trở lại đi làm ngay sau thời gian mở cửa.

Theo kết quả khảo sát của VASEP, chỉ khoảng 30% đến 40% doanh nghiệp có đủ năng lực để phục hồi sản xuất ngay sau khi kết thúc giãn cách xã hội, số còn lại rất khó hoặc cần thời gian dài để khôi phục hồi lại hoạt động sản xuất, vì trung bình cần từ 18 đến 24 tháng mới khôi phục 100% công suất sản xuất.

Tương tự, ông Đặng Hoàng Giang, tổng thư ký Hiệp Hội Điều Việt Nam (Vinacas), cho hay từ Tháng Sáu đến nay, một lượng lớn người lao động tại Sài Gòn đã trở về các tỉnh.

Tại một số tỉnh như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Phú Yên… một số doanh nghiệp chế biến điều do gặp khó khăn trong việc sản xuất “ba tại chỗ,” “1 cung đường 2 điểm đến” nên đã buộc phải duy trì số lượng lao động ở mức tối thiểu.

Theo các hiệp hội, được chích vaccine là vấn đề căn cơ nhất để công nhân có thể trở lại làm việc sản xuất, nhưng hiện tại tỷ lệ chích ngừa cho đối tượng này tại các nhà máy ở các tỉnh từ Nam Trung Bộ vào đến các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long mới đạt trung bình từ 30% đến 35% cho mũi nhất, tỷ lệ chích mũi nhì thì rất thấp, dưới 5%.

Nói với báo Lao Động, ông Giang cho biết theo số liệu ghi nhận, phần lớn doanh nghiệp chế biến điều tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa chưa được chích mũi nhì, còn mũi nhất cũng chỉ khoảng 30%. Do đó, nếu mở cửa hoạt động trở lại sau giãn cách, không quá 30% doanh nghiệp đáp ứng được.

Nhiều dãy nhà trọ của công nhân ở Sài Gòn vắng lạnh do không có người ở. Ảnh: CAND
Nhiều dãy nhà trọ của công nhân ở Sài Gòn vắng lạnh do không có người ở. Ảnh: CAND

 

“Tại Sài Gòn, Bình Dương và các vùng xa như Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Phú Yên, Gia Lai… nhiều doanh nghiệp cho hay độ phủ vaccine thấp. Việc này khiến thiếu hụt nhân công và sẽ là rào cản lớn với doanh nghiệp. Để bảo đảm sản xuất an toàn, đề nghị nhà nước ưu tiên chích vaccine đầy đủ cho người lao động đủ hai mũi trước cuối năm 2021,” ông Giang nhấn mạnh.

Ngoài ra các doanh nghiệp dệt may, hồ tiêu, logistics, chế biến gỗ… cũng đề nghị chính phủ “đẩy nhanh tốc độ chích vaccine cho công nhân để đáp ứng nguồn cung nhân lực cho các doanh nghiệp tái sản xuất, bởi sau khi dịch bệnh giảm, nhu cầu về lao động là rất lớn.”

Nguồn: Người Việt

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”