Đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt 2019 sẽ không phải là số 0?

Phái đoàn Việt Nam tại Đối thoại Nhân quyền Việt - Mỹ lần thứ 22 tại thủ đô Washington, ngày 17/5/2018. Twitter EAP DOS.
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Số 0 từng là kết quả tại Đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt năm 2017 tại Hà Nội và năm 2018 tại Washington.

Năm 2019, Đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt thường niên một lần nữa được tổ chức tại thủ phủ của chính thể độc đảng, vào khoảng trung tuần tháng Năm. Một phái đoàn của Vụ Dân chủ, Lao động và Nhân quyền thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ tham vấn ý kiến giới hoạt động xã hội dân sự ở Việt Nam trước khi bước vào cuộc đối thoại đó.

Số 0 trơn tuột

Hai năm trước, sau khi cuộc Đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt kết thúc, phái đoàn của bà Virginia Bennett – Trợ lý bộ trưởng ngoại giao về dân chủ, nhân quyền và lao động – đã vào Sài Gòn và gặp gỡ một số nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam tại nhà riêng của Tổng lãnh sự Mỹ Mary Tarnowka. Hào hứng và hy vọng, Virginia Bennett đã thông báo với các thành viên xã hội dân sự Việt Nam về kết quả đáng khích lệ của cuộc đàm phán nhân quyền vừa diễn ra. Đúng vào lúc đó, một khách mời chủ chốt của cuộc gặp này là bác sĩ Nguyễn Đan Quế – người sáng lập phong trào đấu tranh dân chủ Cao trào Nhân bản, từng phải nằm tù cộng sản đến hai chục năm, đã bị hai chục công an thô bạo vây kín nhà để ông không thể đến gặp phái đoàn của bà Virginia Bennett.

Khi đó, dù Virginia Bennett là một chính khách mới trong chính quyền Donald Trump và có lẽ chưa có mấy kinh nghiệm về các thủ thuật trả treo nhân quyền của giới lãnh đạo Việt Nam, sự thật là cái kết quả mà bà Bennett nhận được bằng những lời hứa hẹn chung chung và xảo ngôn của trưởng đoàn đối thoại nhân quyền Việt Nam – một quan chức chỉ ở cấp vụ trưởng Bộ Ngoại giao và năm nào cũng có nhiệm vụ thông báo những lời hứa hẹn không hề được bảo chứng như thế – là sau cuộc đối thoại này đã không có gì được cải thiện.

Thậm chí sau khi Thủ tướng Phúc kết thúc cuộc gặp với Tổng thống Trump ở Mỹ vào tháng 5 năm 2019 mà đã không nhận được tín hiệu nào về Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ, thậm chí còn bị Trump “đòi nợ” về tình trạng nhập siêu quá nhiều của Mỹ đối với Việt Nam trong lúc Trump lại gần như không quan tâm đến vấn đề nhân quyền, giới cầm quyền Việt Nam đã bắt bớ đến gần ba chục nhà hoạt động nhân quyền chỉ riêng trong năm 2017, đồng thời đưa ra xử tù cực kỳ nặng nề đối với họ.

Trong số những người bất đồng chính kiến bị công an Việt Nam bắt vào năm 2017 và năm 2018 có cả cái tên Nguyễn Bắc Truyển – một nhà hoạt động tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và đã có mặt tại nhà riêng bà Mary Tarnowka vào buổi tối gặp mặt phái đoàn đối thoại nhân quyền của Hoa Kỳ. Cho tới nay, Truyển vẫn phải nằm tù với mức án đến 11 năm.

Virginia Bennett dường như đã không có được một chút may mắn như những người tiền nhiệm là Daniel Baer và Tom Malinowsky.

Nếu lấy mốc thời điểm năm 2013 để đánh dấu về việc lần đầu tiên chính thể Việt Nam tiếp cận gần hơn bao giờ hết với TPP (Hiệp định Đối tác kinh tế Xuyên Thái Bình Dương) và đặc biệt cần đến hiệp định này như một sự cứu vãn với nền kinh tế bắt đầu chìm ngập trong suy thoái và nền ngân sách bắt đầu lao vào hội chứng hộc rỗng, những cuộc trao đổi của chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Barack Obama và được cụ thể hóa bằng đoàn đối thoại nhân quyền do Daniel Baer và sau đó là Tom Malinowsky dẫn đầu đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam phải trả tự do do khá nhiều tù nhân lương tâm trong hai năm 2013 và 2014 như Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ… và cả Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần – tổng cộng khoảng 12 người,

Nhưng Virginia Bennett lại đến Hà Nội vào một thời điểm buồn bã và u ám: chỉ vài tháng sau khi nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ, Trump đã làm chết đứng giới chóp bu Việt Nam bằng tuyên bố Mỹ rút ra khỏi Hiệp định TPP – mang lại hệ quả lớn lao rằng Việt Nam sẽ không còn là quốc gia được hưởng lợi nhất trong hiệp định này. Không bao lâu sau đó, tư tưởng ‘ăn không được thì đạp đổ’ đã biến chính quyền Việt Nam trở lại bản năng một sinh vật hung hãn và xảo tiện, trút lên giới đấu tranh dân chủ nhân quyền ở đất nước này mối thù vặt và công cuộc trả thù điên dại.

Trước tình trạng chính quyền Việt Nam gia tăng đàn áp người bất đồng, có vẻ phía Mỹ đã phải tạm ngưng đàm phán nhân quyền, dù cơ chế đối thoại nhân quyền giữa Mỹ và Việt Nam được duy trì 2 lần mỗi năm. Vào cuối năm 2017, đã không có đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ nào diễn ra, cho dù giữa năm đó đã đánh dấu một mốc thời điểm quan trọng về hậu quả đu dây té lộn cổ của chính thể Việt Nam: tháng 7 năm 2017, Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo cấp tốc sang Washington cầu viện, bởi ngay trước đó ‘bạn vàng’ Bắc Kinh đã dùng đến vài trăm tàu hải cảnh vây bọc khu vực Bãi Tư Chính và mỏ dầu khí Cá Rồng Đỏ – một liên doanh giữa Việt Nam với hãng dầu khí Repsol của Tây Ban Nha, khiến chính thể Việt Nam mất ăn dầu khí ngay trên ‘vùng biển chủ quyền không thể tranh cãi’ của mình.

Tuy nhiên, lý do ngả ngớn về Mỹ một chút như trên chỉ là dầu khí chứ không phải nhân quyền. Hơn nữa, Donald Trump cũng nổi bật không phải là một tổng thống có mối quan tâm đặc biệt đến quyền con người trên thế giới.

Mỹ đang nắm đằng chuôi về quân sự và cả về nhân quyền nếu muốn…

Sang năm 2018, tình hình vẫn chưa thể khả quan hơn. Cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt thường niên vẫn diễn ra tại Washington nhưng có vẻ vẫn bế tắc. Mặc dù khi đó đã nhận được tín hiệu ‘cho qua cầu’ của Liên minh châu Âu (EU) về EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do châu Âu – Việt Nam), chính quyền Việt Nam vẫn chỉ thả nhỏ giọt vài tù nhân bất đồng chính kiến như luật sư Nguyễn Văn Đài và blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Còn vào Đối thoại nhân quyền năm 2019, một lần nữa người Mỹ có vẻ ‘rút kinh nghiệm sâu sắc’ và tỏ ra cứng rắn hơn trước thái độ trơn tuột của những quan chức Việt mặt mũi bóng nhẫy và bụng lầy mỡ.

Sau nhiều năm quần quật nếm trải với Việt Nam về nhân quyền, rốt cuộc có vẻ Hoa Kỳ đã rút ra một bài học đắt giá: đặc tính của chính quyền Việt Nam là luôn dùng tù nhân lương tâm để mặc cả về các hiệp định kinh tế, thương mại và viện trợ. Nhưng khi đạt được mục đích của mình, chính quyền Việt Nam lập tức trở mặt và bắt bớ người hoạt động nhân quyền.

Nếu không ở vào thế cùng quẫn về kinh tế và ngân sách, nếu không bị chế tài về lợi ích cá nhân, bản chất sẵn sàng vi phạm nhân quyền của chế độ toàn trị và giới quan chức ở Việt Nam sẽ không bao giờ thay đổi.

Khác hẳn với bối cảnh TPP không có Mỹ vào năm 2017, giờ đây Hoa Kỳ đã phần nào lấy lại ưu thế của nó bằng một sự kiện đặc biệt mà nhiều khả năng sẽ diễn ra: tiếp theo cú ngã vỡ mặt vào năm 2017 trước Trung Quốc và sau những chuyến con thoi qua lại lẫn nhau của bộ trưởng quốc phòng hai nước Việt và Mỹ, chính Nguyễn Phú Trọng sẽ công du theo lời mời chính thức của Donald Trump đến Washington – nơi mà ông ta sẽ lần đầu tiên được đón tiếp một cách không phải ‘ngoại lệ’ hay ‘đặc cách’ với vai trò là nguyên thủ quốc gia, chứ không bị coi là tổng bí thư của một đảng cộng sản mà thậm chí ngay tại Việt Nam còn bị xem là ‘hoạt động bất hợp pháp’ (cho tới nay vẫn chẳng có bộ luật nào luật hóa hoạt động của đảng này).

Đó sẽ là một cuộc gặp mà Bắc Kinh chẳng thích thú gì mà chắc chắn sẽ tìm cách phá đám – khi Trọng và Trump, không nghi ngờ gì nữa, sẽ bàn nhiều đến vấn đề tiêu điểm là hợp tác quốc phòng Mỹ – Việt và còn có thể dẫn tới một hình thức gần giống như hiệp ước tương trợ quốc phòng mà người Mỹ đã ký với Philippines, trước khi dẫn tới tương lai lớn hơn hẳn là quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Việt.

Sau quân sự sẽ là kinh tế, thương mại hai chiều mà đang mang lại cho Việt Nam giá trị xuất siêu đến 35 tỷ USD/năm. Và còn những triển vọng khác nữa… Với điều kiện là từ nay đến đó Nguyễn Phú Trọng kịp phục hồi sức khỏe khỏi cơn tai biến mang tên ‘Kiên Giang 14 tháng Tư’ mà đã suýt bắt ông ta nằm liệt giường.

Trong thời gian Trọng phải chịu biến cố trên, cấp dưới trực tiếp của ông ta là ‘Phó tổng bí thư đảng’ Trần Quốc Vượng đã thay Trọng tiếp đoàn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi Thượng nghị sĩ Patrict Leahy, thăm Việt Nam – một trong những động tác làm tiền đề cho cuộc gặp Trump – Trọng sắp tới.

Các thượng nghị sĩ trên đã có các cuộc gặp với một số những chóp bu của đảng, chính phủ và Quốc hội Việt Nam và đã đề cập đến một số các trường hợp tù nhân lương tâm bao gồm danh sách 7 tù nhân lương tâm được Đại sứ quán Mỹ chuẩn bị, điển hình là trường hợp của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, người đang phải chịu án tù 16 năm với cáo buộc hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân trong một phiên tòa vào năm 2010. Trường hợp của công dân Mỹ gốc Việt Michael Phương Minh Nguyễn, người đang bị giam giữ tại Việt Nam để điều tra cáo buộc hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, cũng được đưa ra trong chuyến thăm đó.

Ngay sau khi trở về Hoa Kỳ, Thượng Nghị sĩ đảng Dân Chủ Tim Kaine – một trong số thành viên của đoàn thượng nghị sĩ trên – đã nói: “Chúng ta (Hoa Kỳ) phải đưa vấn đề nhân quyền và cải thiện nhân quyền là một cột trụ trong quan hệ hai nước. Tôi rất mừng khi thấy quan hệ hai nước đã có những điểm mạnh. Hoa Kỳ đang cố gắng để giải quyết các vấn đề về di sản của chiến tranh. Chúng ta đã làm đúng và chúng ta có quyền đòi hỏi chiều ngược lại và điều mà chúng ta đòi hỏi đổi lại đó là nhân quyền.” (RFA Việt ngữ).

Nếu cuộc gặp Trump – Trọng diễn ra vào mùa hè năm 2019, đó có thể là một phiên bản của quá khứ khi đã diễn ra cuộc gặp Obama – Sang vào tháng 7 năm 2013. Vào lúc đó, Trương Tấn Sang – chủ tịch nước – sang Mỹ điều đình cho Hiệp định TPP, để khoảng ba tuần sau đó thì một tòa án ở Long An đã phải trả tự do ngay tại tòa cho sinh viên bất đồng Nguyễn Phương Uyên, dù trước đó đã xử án sơ thẩm cô đến 6 năm tù.

Cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ – Việt năm 2019 cũng bởi thế có thể sẽ mang một sắc thái khác hơn và hy vọng hơn so với con số 0 tròn trĩnh hai năm trước đó. Bây giờ là vấn đề Trần Huỳnh Duy Thức và những tù nhân lương tâm khác. Sự thay đổi về số phận con người và quyền con người này có thể hiện ra trước khi Nguyễn Phú Trọng đặt chân đến Washington.

Phạm Chí Dũng

Nguồn: VOA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”